Wednesday, 24 December 2025

Chúc mừng Giáng Sinh 2025 và Năm Mới 2026

Chúc quý văn thi hữu và độc giả
 
Mùa lễ Giáng Sinh vui tươi ấm cúng
Năm Mới 2026 an vui. 
                          
 
 
 
 
 
 
 
 Image by Pixabay 
 

Image by paitoon youlike from Pixabay 

Friday, 12 December 2025

Hồn Trẻ 20 và bạn hữu

NHÀ VĂN TRÀ LŨ VỪA BAY VỀ ĐẤT THIÊN THAI

SONG THAO

 
      Nhà văn Trà Lũ vừa bay về đất thiên thai vào ngày 3/12/2025 vừa qua. Trong suốt văn nghiệp của anh trong nhiều năm qua, anh đã xuất bản nhiều tác phẩm đều mang tên bắt đầu bằng chữ "Đất". Đất anh nói tới là đất Canada mà chúng tôi đang tạm cư. Anh vừa rời xa đất Canada để về một miền đất mới ngoài trái đất này: Đất Thiên Thai. Cầu mong anh an lạc trong miền đất mới.
 
      “ĐẤT THIÊN THAI” CỦA TRÀ LŨ
      Anh Trà Lũ và tôi thỉnh thoảng lại điện thoại cho nhau. Người ở Montreal, người ở Toronto, xa mặt nhưng không cách lòng. Chuyện mưa nắng, chuyện văn nghệ văn gừng, chuyện sinh hoạt nơi chúng tôi đang sống. Cũng là những chuyện vui thôi. Duy có một chuyện chúng tôi chia nhau đứng thành hai phe riêng rẽ, chưa bao giờ đồng ý với nhau. Đó là chuyện già. Anh Trà Lũ thì lúc nào cũng than thở mình già, còn tôi nhất định không cho mình là già, chỉ nhiều tuổi! Vậy mà khi cho xuất bản hai cuốn “400 Chuyện Cười” và “Đất Thiên Thai”, anh gửi lên Montreal biếu một người có cái tên là “Cụ Song Thao”! Tôi bèn phôn xuống Toronto tức thời. Đại ý tôi nói là trên Montreal không có ai là “cụ Song Thao” cả và tôi đã định không nhận! Anh Trà Lũ cười xòa. Anh đánh trống lảng không nói chi nhưng tôi biết anh ấy nhất định giữ lập trường…già như thường lệ.
      Cầm hai cuốn sách trên tay tôi mới chợt nghĩ ra. À! Hóa ra ông này giả bộ. Cứ than van già mà ra một lúc tới hai cuốn sách: cuốn 350 trang, cuốn 400 trang. Viết như vậy thì già chi được! Cả hai cuốn đều không phải là văn phong của người già.
      Cuốn “400 chuyện cười” thì làm sao mà già. Già thì phải nghiêm trang, ai hỏi thì cứ ậm ừ làm oai, chờ cho tới khi người ta mỏi miệng mới…phán! Chứ cười toét ra tới 400 lần thì trẻ đứt đuôi chứ già chi. Già chăng là ở cái phúc. Tên cuốn sách là “400 chuyện cười” nhưng thực sự trong sách có tới 440 chuyện tất cả. Già nên rộng lượng bonus thêm cho người đọc tới 10%! Đọc cuốn này thì chỉ có cười. Chọc cho người ta cười là khó. Chứ chọc cho người ta khóc như cô đào Kim Cương ngày xưa thì dễ ẹc. Nước mắt thường rẻ hơn tiếng cười vì nước mắt làm cho cuộc đời thêm bi lụy. Đó là mảng tối của cuộc sống. Ngược lại, tiếng cười là khúc nhạc xuân làm rạng rỡ cuộc sống. Tạo ra tiếng cười thì xuân hết sức xuân. Vậy mà ông Trà Lũ cứ nhất định mình già. Tin sao nổi.
      “Đất Thiên Thai” là cuốn thứ 11 của nhà văn…đất này. Nào đất hạnh phúc, đất mới, đất hứa, đất thiên đường, đất yêu thương, đất tình nồng, đất quê ngoại, đất anh em, đất nhà, đất an lạc và đất thiên thai. Tất cả những thứ đất thân thương này là chỉ đất nước Canada, đất nước chúng ta đang sống và nhận làm quê hương thứ hai của mình. Tất cả chúng ta đều tri ân mảnh đất đã cưu mang chúng ta, yêu mến sông biển núi rừng của mảnh đất tạm dung này, nhưng bày tỏ lòng yêu mến một cách khỏe khoắn và rốt ráo như nhà văn Trà Lũ thì chúng ta chưa đạt tới được. Nghĩ vậy nên tôi cứ thắc mắc là tại sao đến bây giờ mà vị Toàn Quyền Canada chưa gắn cho nhà văn của chúng ta một mảnh huy chương nào. Đó là một thiếu sót.
      Canada của ông Trà Lũ kinh lắm! Ông tìm tòi, nặn ra những thứ mà Canada là nhất. Như cây mù tạc. Đó là thứ chúng ta thường dùng với thịt bò bí tết. Cây mù tạc đã có mặt trên đất nước Canada từ 5 ngàn năm trước. Đó là thứ cây…Canada vì hiện nay Canada sản xuất 90% tổng số mù tạc trên thế giới. Mù tạc đi với bí tết thì rượu cũng đi với bí tết. Nói tới rượu người ta nghĩ tới nước Pháp và các nước ôn đới ở châu Âu. Rượu Pháp là số một trên thế giới. Nhưng ông Trà Lũ lại tìm tòi và chứng minh rượu Canada mới là số dách! Chuyện xảy ra vào đúng ngày 29 tháng 8 năm 2006. Cũng mới đây thôi. Ngày đó ông sâu rượu người Canada Marc Chapleau đã mời một số những người sành rượu trên khắp thế giới về đất Quebec chúng ta để nếm rượu của khắp năm châu gửi về dự thi. Dĩ nhiên cũng như chúng ta thi cử ngày xưa dùng phách để giữ kín tên thí sinh cho khỏi thiên vị, các giám khảo rượu cũng chỉ được biết những con số chứ không biết đó là chai rượu nào, của nước nào. Ai cũng đinh ninh rượu Pháp sẽ ăn trùm thiên hạ. Vậy mà rượu Canada lại đoạt giải nhất, Đó là chai rượu “Le Clos Jordanne Claystone Terrace 2005” được sản xuất tại Niagara. Cuộc đăng quang của rượu Canada làm chấn động giới nhậu nhẹt quốc tế.
      Canada của Trà Lũ còn nhiều cái nhất khác: xứ sở đa văn hóa thành công nhất, cảnh trí xinh đẹp và hùng vĩ nhất, lá vàng mùa thu rực rỡ nhất, có tự do nhất, có nền y tế miễn phí đại chúng tốt nhất, là cha đẻ của môn thể thao hockey, có trữ lượng nước ngọt lớn nhất và cuối cùng là có cà phê Tim Hortons! Đúng là…đất thiên thai.
      Từ mảnh đất thiên thai này đã có 103 người Canada tử trận trên chiến trường Việt Nam. Chắc quý vị cũng như tôi đều ngạc nhiên vì con số thương vong này. Bởi vì Canada làm gì có binh sĩ tác chiến tại Việt Nam mà chỉ có những quân nhân trong Ủy Ban Quốc Tế Giám Sát Đình Chiến. Có ai dám đụng tới lông chân của các vị giám sát này đâu. Sự thực là từ thời thập niên 1960 đã có tới 20 ngàn thanh niên Canada qua Mỹ nhập ngũ và sang chiến đấu tại Việt Nam trong các binh chủng của quân đội Hoa Kỳ. Con số 103 người nằm xuống trên đất nước chúng ta là hình hài Canada nhưng được phủ quốc kỳ Mỹ.
      Như vậy mảnh đất thiên đàng này có liên hệ tới mảnh đất quê hương của chúng ta. Nhà văn Trà Lũ rất khoái chuyện kết nối giữa quê nội và quê ngoại này. Bởi vì ông tin là người da đỏ tại Canada chính là hậu duệ của năm chục người con theo cha xuống biển của truyền thuyết một mẹ trăm con từ ngày lập quốc của Việt Nam. Chuyện này có lẽ là chuyện ông Trà Lũ thích thú nhất trong cuốn “Đất Thiên Thai”. Ông viết: “Các cụ có biết sắc dân đầu tiên đến Canada là sắc dân nào không? Thưa, đó là sắc dân Da Đỏ đến từ Á Châu. Các cụ cứ quan sát hình người da đỏ mà coi. Họ da vàng rõ ràng nhưng không biết tại sao người Việt Nam mình lại gọi họ là da đỏ. Nét mặt của họ hoàn toàn Á Đông nhưng đoàn thám hiểm da trắng đầu tiên gặp họ ở trên đất nước này đã gọi họ là Indian vì nghĩ rằng mình đã tới xứ Ấn Độ. Theo nhân chủng học thì đoàn người Da Đỏ đầu tiên đã tới xứ này cách đây mấy chục ngàn năm. Họ khởi hành từ Á châu, men theo eo biển Bering miền cực bắc, rồi tỏa xuống phía nam, định cư ở miền đất thiên đàng Canada hiện nay, và một số đã xuống tới Hoa Kỳ. Hình như ngày xưa triết gia Kim Định đã cho rằng tổ tiên người da đỏ có gốc Việt Nam và phát xuất từ miền Bắc Việt Nam. Ông căn cứ vào lịch sử: mẹ Âu Cơ đã dẫn một đoàn con lên miền núi phía bắc, còn cha Lạc Long dẫn một đoàn con xuống miền biển phía nam. Đoàn người da đỏ tiên khởi tới Canada rồi tỏa đi khắp nơi, chia ra nhiều bộ tộc, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau”.
      Chưa hết. Nhà văn Trà Lũ còn xác nhận chủ quyền của Việt Nam chúng ta trên mảnh đất thiên thai này bằng ngữ học. Cái tên Canada của đất nước này chính là tiếng Việt! Khi ông Jacques Cartier và các nhà thám hiểm da trắng tới mảnh đất này vào năm 1533, họ hỏi người da đỏ tên mảnh đất họ đặt chân tới này tên là chi. Vì bất đồng ngôn ngữ nên mấy ông Việt Nam cổ này lại tưởng họ hỏi là nhà mấy ông ở đâu nên chỉ về mấy túp lều và nói “Kanata”. Tai ông Jacques Cartier là tai tây nên nghe ra là “Canada”. Vậy là tên đất nước này dính chết với sự nghễnh ngãng của mấy ông tây đi thám hiểm. Nhưng Kanata là cái chi? Đó chính là câu tiếng Việt “Cái nhà ta”. Tiếng Việt rõ ràng!
      Ông Trà Lũ khoái truyền thuyết này. Tôi cũng khoái. Và tôi nghĩ chúng ta ai cũng khoái hết. Nếu bây giờ chúng ta cứ truy theo sự kiện này mà đòi làm người da đỏ thì chúng ta có rất nhiều quyền lợi. Ít nhất các ông nghiện thổi khói thuốc cũng được hút thuốc lá với giá rẻ không thuế!
      Đất nước ta, theo suy luận của nhà yêu nước Trà Lũ, trải dài từ Á châu qua Mỹ châu. Đúng là rừng vàng biển bạc. Người Việt Nam, vẫn theo nhà yêu nước Trà Lũ, là thứ người dễ thương nhất thế giới. Chả thế mà đến tiên cũng phải yêu người Việt chúng ta. Trên thế giới có rất nhiều chuyện kể về tiên hiện xuống cứu người hoạn nạn nhưng toàn là những bà tiên già khằng, chỉ có chuyện tiên ở Việt Nam mới có các nàng tiên trẻ măng xuống trần kết duyên với trai Việt. Như nàng tiên Giáng Kiều bước ra từ bức tranh để kết duyên với chàng trai Tú Uyên trong chuyện Bích Câu Kỳ Ngộ. Như chuyện nàng tiên Giáng Hương yêu quan huyện Từ ThứcThanh Hóa rồi dẫn ông nhập thiên thai. Như chuyện nàng tiên Chức Nữ hiện xuống kết duyên với Ngưu Lang bị cha gọi về trời khóc hết nước mắt làm mưa ngâu rả rích vào tháng 7 mỗi năm. Tại sao chỉ có ở Việt Nam tiên mới hiện ra thành những thiếu nữ xinh đẹp và kết duyên với thanh niên đất Việt. Theo ông Trà Lũ thì tại vì thanh niên Việt đẹp trai và dễ thương! Các bà có điều chi khiếu nại thì xin tìm gặp ông Trà Lũ ở…đất thiên thai.
      Yêu đất Việt, yêu người Việt đến mức thiên vị, nhà văn Trà Lũ còn yêu món ăn Việt Nam. Điều này không có chi lạ. Ai trong chúng ta chẳng có cái miệng thưởng thức món ăn quê hương. Nhưng ông Trà Lũ có những điều mà riêng tôi không bao giờ có được. Chuyện bếp núc của tôi chỉ tới mức nấu mì gói. Tôi nghĩ có lẽ tôi là người Việt Nam giản dị nhất. Bởi vậy nên khi ông Trà Lũ trổ tài bếp núc, tôi phục sát đất. Cuốn “Đất Thiên Thai” gồm có ba chục bài, mỗi bài hầu như đều nói về cách nấu nướng một hoặc nhiều món ăn Việt Nam. Nếu kể hết ra đây thì tốn rất nhiều nước miếng nên tôi xin mạn phép thiên vị chỉ nhắc lại những món của ông Trà Lũ mà tôi thích.
      Trước hết là món cá bống trứng kho tiêu, Chúng ta thử bước theo tài ẩm thực của ông Trà Lũ. “Đây là những con cá nhỏ bằng ngón tay út, chúng bám vào đám rễ lục bình trôi trên sông, chúng sống bằng bọt bèo lục bình nên trong ruột không có chất dơ. Dân Đồng Tháp chỉ cần quơ lưới dưới bè lục bình là bắt được chúng dễ dàng. Vì trong bụng không có chất dơ nên không cần mổ bụng cá, ta chỉ cần rửa cá sơ sơ rồi xóc muối, cho vào tã đất, thêm nước mầu, thêm chút dầu, lửa liu riu. Khi cá chín lúc đó mới cho tiêu…Hạt tiêu nấu ở nhiệt độ cao sẽ mất hết mùi thơm. Đây là bí quyết làm món cá thơm nhức mũi”.
      Món hẩu sực thứ hai của tôi là món thịt heo nấu giả cầy. Lại theo ngòi bút của ông “nội trợ” Trà Lũ. “Chân giò heo đem về, đem nướng trên lửa hồng cho vàng, rồi ngâm nước, rồi cạo sạch, rồi chà với chanh cho hết mùi khét, rồi ướp với riềng, mắm tôm, đường, me chua, rồi xào cho thơm, rồi thêm nước luộc xương heo đã làm từ trước. Khi nồi thịt đã sột sệt thì cho rượu vang vào, chờ cho sôi là bắc ra ngay. Món này xơi nóng với bún. Nếu cụ ăn được ớt, xin cụ thỉnh thoảng cắn một chút ớt cay, và nhấp một chút whisky hay vodka. Ngon vô cùng!”
      Món thứ ba cũng là một món ăn miền Bắc như món giả cầy. Đó là món bún chả Hà Nội. “Tôi cứ nghĩ miếng thịt heo nào cũng có thể làm bún chả miễn là mình nấu khéo. Thế mà không phải, các cụ ạ. Theo đầu bếp B.95 thì miếng thịt phải là thịt ba chỉ ở vai, chỗ này da mỏng, mỡ mỏng, mới ngon. Món bún chả Hà Nội gồm chả nướng và chả viên. Cái việc quan trọng nhất là ướp thịt. Xưa nay nói tới ướp thì ai cũng chỉ nghĩ tới hành tiêu tỏi nước mắm. Không đơn sơ thế đâu. Gia vị ướp món này cầu kỳ hơn nhiều và bí quyết nằm ở phân lượng các gia vị. Nào hành hương, hành trắng, nào tỏi, nào đường, nào mật ong, nào muối, nào nước mắm, nào dầu olive, nào rượu vang, nào hạt tiêu. Rồi ướp thịt. Năm phần thì bốn phần làm thịt nướng và một phần làm chả viên. Công phu nhất là cách nướng thịt. Cụ B.95 xiên thịt vào que tre, và nướng trên than hồng. Quạt nhẹ tay. Lửa xèo xèo. Thơm điếc mũi. Xâu thịt vừa cháy xém phía ngoài là được. Rồi thịt nướng được trút vào chén nước mắm cùng với chả viên nướng trong lò bỏ ra. Chén nước mắm này giữ phần quan trọng đây. Nó gần giống như nước mắm pha để ăn chả giò, nhưng nhiều tỏi hơn, nhiều ớt hơn, nhiều chanh hơn, lại thêm đồ chua cà rốt, đu đủ và củ cải ngâm dấm đường. Nào, mới các cụ xơi. Cụ gắp bún bỏ vào chén nước mắm, thêm chút rau xà lát, đặc biệt thêm lá kinh giới, một chút đậu phọng rang đập dập, và một chút lá hành phi thái nhỏ. Húng thì cụ cầm tay, ăn đến đâu thì cắn đến đó. Kinh giới và húng thì xin cụ chớ rửa và ngâm nước lâu giờ, chúng sẽ bay hết mùi thơm. Chỉ rửa chúng mấy phút trước khi ăn. Món bún chả này phải ăn nóng nha. Nên ăn cay một chút, vừa ăn vừa hít hà, vừa xuýt xoa mới ngon”.
      Chuyện ăn uống có lẽ tới đây nên ngừng lại vì chẳng nên tốn nước miếng một cách phí phạm quá đáng tuy nấu ăn hình như là nghề của ông Trà Lũ. Nhưng sao trong đoạn trích trên lại có cụ B.95 len lỏi vào? Cụ là ai? Nếu đọc Trà Lũ nhiều chắc ai trong chúng ta cũng biết là ông Trà Lũ chỉ là người tường trình lại cho chúng ta những gì xảy ra trong làng của ông. Đó là làng An Lạc. Làng này gồm toàn các công dân ưu tú. Như ông ODP, ông HO, cụ Từ Hòe. Lại có cặp vợ chồng John và Ba Biên Hòa. Anh John người Canada nhưng rất thông thạo tiếng Việt, biết được cả những cái lắt léo trong ngôn ngữ của chúng ta. Còn chị Ba Biên Hòa thì khỏi phải giới thiệu vì cái tên đã nói lên hết rồi. Phía trưởng thượng có Cụ Chánh và cha Paolo. Hai cô tiểu thư xứ Huế là các cô Cao Xuân và Tôn Nữ. Cuối cùng là nhân vật tác giả của cách làm bún chả Hà Nội tên là cụ B.95, người qua Canada từ miền Bắc Việt Nam.
      Làng An Lạc này có lẽ là làng…thống nhất vì có đủ nhân vật Nam, Trung, Bắc. Lại có cả người Canada. Thành phần còn gồm đủ các loại di dân Việt tiêu biểu qua đất thiên thai như ODP, HO. Mỗi bài viết của Trà Lũ là một buổi họp làng. Thực đơn của một buổi họp gồm những câu chuyện về lịch sử, văn chương, ngôn ngữ, lại có tin cập nhật về tình hình thế giới và Canada, chuyện tiếu lâm khi mặn khi nhạt, khi bỗ bã khi chay tịnh, và đặc biệt nhất bao giờ cũng có chuyện ăn uống được đề cập tới một cách tỉ mỉ. Nếu gọi đây là một làng chỉ khoái ăn nhậu thì có vẻ hơi quá lời nhưng người đọc có lẽ mặn mà nhất với tiết mục ăn uống này. Ít nhất tôi đã cảm nhận như vậy.
      Vì ông Trà Lũ chỉ đóng vai người tường thuật lại những buổi họp làng mà buổi họp nào cũng có những tiết mục y chang như nhau nên ai cũng nghĩ là dễ nhàm chán. Vậy mà không. Mỗi bài vẫn có cái hấp dẫn lôi cuốn riêng. Những thành viên trong làng tung hứng những chuyện lan man một cách thú vị làm người đọc cảm được cái không khí vừa sôi nổi vừa vui tươi của mỗi buổi họp làng trong từng bài viết của ông Trà Lũ. Ông quả là người có tài.
      Nhưng cái làng lý tưởng An Lạc có thật không? Biết tôi có mối thâm tình với ông nhà văn rề rà kể chuyện một cách duyên dáng này nên nhiều người đã tò mò hỏi tôi làng An Lạc có thật không? Tôi thiệt tình chẳng biết trả lời ra sao. Có thật hay ông nhà văn này hư cấu ra? Đã bao lần, trong lúc thân tình, tôi đã suýt buột miệng hỏi giùm bạn đọc nhưng may quá tôi đã giữ được mồm miệng. Tôi không muốn ông bạn chân chất rất sùng đạo của tôi phạm tội nói dối!
 
SONG THAO       
09/2011   

Hình 1: Hình chụp tại Montreal (12/2004)

Hình 2: Từ trái sang phải: Nhà Văn Trà Lũ, Soạn Giả Nguyễn Phương, Song Thao, Ký Giả Lê Thái (Toronto 09/2006)

Hình 3: Từ trái: Nhà văn Trà Lũ - Nhà văn Nguyên Nghĩa - Song Thao - Nhà văn Huy Phương (Toronto, 08/2009)

Nguồn: Song Thao



 

 

 

 

 

 

 


 





 



 

 

NHÀ VĂN TRÀ LŨ ĐÃ VỀ NƯỚC CHÚA

 



Friday, 9 May 2025

Tác phẩm khác của Hồn Trẻ 20

TRUYỆN NGĂN NGẮN NGUYÊN NGHĨA
 
KÝ SINH
     Đứa em trai vừa bước vào nhà. Người chị từ trong bếp hỏi vọng ra:
     - Đi đâu về đấy? Ăn cơm nhé? Chị dọn...
     - Không. Em ăn ở quán rồi. Bọn em mải xem bóng đá nên mới ngồi lâu thế...
     Nhìn bộ mặt tiu nghỉu của em, người chị thở dài:
     - Lại thua rồi chứ gì?
     - Ừ thì lại thua. Chả là, tuyển Argentina thua cả Ả Rập Xê Út ở lượt trận đầu tiên, nên em "bắt" Pháp. Không ngờ trận chung kết Argentina đánh bại Pháp... 
     Thôi, đến giờ làm việc rồi. Em phải lên mạng đây. Bọn đu càng, cạo móng đang ầm ĩ trên phây. Ngày nào cũng phải đấu đá với chúng nó... 
     Người chị cau mặt mắng:
     - Tiền thì không có, cứ xin hết người này đến người kia gửi tiền về giúp, thế mà vẫn không bỏ cá độ! May có bà chị cả sang Mỹ năm 75, làm tiệm neo cực khổ mới dành dụm được tiền mà gửi về nuôi, không thì em lấy gì sống?

Nguyên Nghĩa (Truyện ngăn ngắn #01)

******

TÀI BIẾN HÓA
    Một ảo thuật gia đại tài, khó có ai sánh nổi và được cả thế giới ngưỡng mộ, từng trổ tài làm cho bức tượng Nữ Thần Tự Do ở New York biến mất ngay trước mắt công chúng.
      Một lần sang Việt Nam du lịch, lúc ông ta đang đi bộ ở Ba Đình thì có người nhận ra ông, chạy theo xin ông chữ ký. Rồi người ấy hỏi ông:
      - Ông có thể làm cho biến mất cái tòa nhà rộng hình hộp ở đằng kia nơi người ta đang xếp hàng ngoài cửa?
      - Tôi làm được chứ. Nhưng tôi không làm.
      - Ông ngại gì ư?
      - Tôi không ngại gì cả. Nhưng nếu người dân nước ông muốn nó biến mất thì tự họ đủ khả năng làm. Nước ông có nhiều ảo thuật gia vĩ đại hơn tôi. Họ có thể biến đất công thành đất tư; biến gánh rau thành tòa lâu đài cực kỳ hoành tráng; biến testkit Tàu thành testkit Việt Á; biến dê của dân nuôi thành chim để họ đi săn v.v... Tài biến hóa đó của họ, tôi thua! 

Nguyên Nghĩa (Truyện ngăn ngắn #21)
(Facebooker Quynh Nguyen Thi gợi ý)

***********

GHÉT
      Trại tù giữa rừng sâu. Không có những bức tường bê-tông, không có song sắt, cai tù được gọi là quản giáo, lính coi tù được gọi là vệ binh... Có thể nói, đây giống Nông Trại Súc Vật (Animal Farm).
      Buổi tối, tôi hay tạt qua chỗ người bạn thân bị bệnh để chào nhau, nói vài ba câu rồi về ngủ.
      Đôi lần tôi thấy vài người nữa cũng ghé thăm bạn tôi. Thường nếu người này không biết người kia là ai thì họ dè dặt ít nói. Nhưng tôi đã gặp họ rồi và biết chỗ ngủ của họ gần bạn tôi nên cảm thấy không ngại lắm.
      Lúc tôi đứng lên định ra về thì một người trong nhóm bạn đó choàng tay qua vai tôi giữ lại:
      - Tôi nói câu này ông đừng giận nghen... Bữa nay có dịp nói chuyện với ông rồi mới thấy, ông cũng... dễ thương. Chớ bình thường...
      Tôi hơi bất ngờ, ngẩn người chưa biết phản ứng ra sao thì ông bạn đó nói tiếp:
      - Bình thường... mới nhìn ông là đã thấy ghét rồi. Chưa cần ông làm gì cho thiên hạ ghét! Bây giờ thì tôi nhận ra ông không đáng ghét như vậy. Thông cảm nghen.
      Tôi nói lí nhí cảm ơn.
      Ông bạn đó vỗ vai tôi thân mật:
      - Ở đời, người ta muốn ghét là cứ ghét. Chẳng cần lý do gì hết ráo!

Nguyên Nghĩa
(Truyện ngăn ngắn #1303)

Tác phẩm khác của Hồn Trẻ 20

 

GHẺ

Truyện ngắn NGUYÊN NGHĨA
 
Ngày thứ nhất.
 
Khu rừng có vẻ như bị bỏ hoang từ nhiều năm. Cây cối mọc chằng chịt, gai góc và cỏ dại tràn lan không còn lối đi. Đây là một khu rừng thưa, ít cổ thụ, xen lẫn với những cây già là những thân cây còn non yếu, thấp. Từ dưới nhìn lên, người ta vẫn thấy được trời, nhận ra những đám mây không bị ràng buộc đang mặc tình thong dong. Từ trên nhìn xuống, giả dụ như nhìn từ một chiếc phi cơ đang bay, chắc khó ai biết phía dưới, che khuất bởi những chòm lá, có hàng bao nhiêu ngàn con người đang lau nhau lui tới như những con sâu, cái kiến. Dưới tàn những cổ thụ là các chòi nhỏ lợp tranh, vách cũng bện bằng tranh. Trong chòi, mấy chục mạng người đang chen chúc nhau đứng, ngồi, nằm dài trên nền đất hay toòng teng trên võng mắc từ cột này sang cột kia. Hình như chẳng ai ngủ được. Mỗi người đều có ý nghĩ riêng, nhưng tựu trung là nỗi hoang mang trước một đổi thay quá bất ngờ. Giống như ngay sau một cơn mơ dài, người ta giật mình thức dậy và phân vân không biết họ đang ở đâu. Hàng đoàn xe Molotova phủ bạt kín mít đã mang họ đổ xuống vùng này. Khi bạt phủ được kéo lên, họ bỗng nhận ra mình đang đứng giữa rừng, trước những họng súng AK. Ngoài cây cối và một vài chòi tranh thấp thoáng, chẳng còn gì khác chứng tỏ nơi đây có thường dân cư trú. Đây chỉ có thể là giang san của những con vượn người.
 
Trong vài chòi tranh rải rác, cách biệt với khu đông người, một hai kẻ mặc đồng phục màu ô-liu rộng thùng thình, chân mang dép loại cao su bánh xe hơi, mặt mũi non choẹt, nước da tái mét bệnh hoạn, đang nằm đong đưa trên võng, súng đặt trên ngực, miệng hát lảm nhảm những bài ca lạ hoắc được soạn theo lối nhạc Tàu pha nhạc kịch Tây phương. Trông những kẻ này có vẻ nhàn nhã đến chán ngấy vì chẳng có việc làm. Bắt được chúng nó rồi, để xem đảng ta làm thịt chúng nó cách nào. Đại thắng rồi, tưởng được ra khỏi rừng về phố cho sung sướng tấm thân, ai ngờ lại vào rừng mà ở nữa.
 
Trời không nóng lắm, mùa mưa chỉ mới bắt đầu. Những cơn mưa tới bất thường rồi bỏ đi thật nhanh. Tù nhân không biết làm gì để giết thì giờ và xua bớt nỗi lo âu dồn dập, bèn bày ra đủ thứ việc: kẻ thì lấy đồ đạc mang theo ra xếp lại cho thứ tự, người thì tìm vài sợi dây nối vào nhau rồi cột vào chiếc lon Guigoz làm thành gầu múc nước. Vài kẻ ngồi quanh chiếc bếp dã chiến nhìn củi ẩm cháy nhẩn nha, chờ nước trong lon Guigoz sôi để pha trà hay cà phê. Đôi ba người khác cởi trần mặc quần đùi, kiên nhẫn múc từng lon nước từ giếng lên xối từ đầu tới chân ướt đẫm như muốn phủi sạch những thứ vô dụng đang bám vào người. Vài câu đùa bỡn xỏ xiên, rồi tiếng cười nổ ra giòn tan như pháo. Đúng là bọn điếc chưa sợ súng!
Giữa mặt đất có một cái lỗ sâu hoắm, đường kính cỡ một thước. Chung quanh cái lỗ đó, đất được đắp lên hơi cao hơn mẻ ngoài. Hai thân cây cưa ngắn được gác ngang qua miệng lỗ để làm chỗ đứng cho người. Lâu ngày, cỏ mọc lên chung quanh miệng lỗ, rêu bám đầy hai thân gỗ và cả phía dưới sâu của nơi được gọi là giếng này. Nhìn xuống đó, chỉ thấy một màu đen ngòm. Lá mục nổi lều bều thành lớp dầy trên mặt nước. 
 
Tù nhân thả chiếc lon xuống, quơ tay qua lại cho lớp lá mục dạt sang một góc rồi hất tay mạnh một cái cho chiếc lon lật sang bên, cắm chúi xuống nước. Khi chiếc lon chìm hẳn thì kéo dây lên, cùng lúc phải khỏa cho lá đừng chui vào lon. Động tác đơn giản đó giờ đây trở nên hiện đại, tân kỳ. Không bị chở tới bỏ ở khu rừng này thì làm sao tận dụng được hết khả năng của một chiếc lon Guigoz tầm thường vốn dùng để đựng sữa bột trẻ em do “thực dân” Pháp chế tạo? “Cách mạng” vốn lo xa, đã nghĩ ra bao nhiêu kế hoạch năm năm, theo đó, đến năm thứ bao nhiêu thì loài người sẽ có thứ gì; nhưng những tù nhân hôm nay cũng lo xa không kém. Mọi thứ cần thiết cho một con người để có thể sinh tồn, dù là sẵn có mang theo hay tự chế cũng đều do chính tù nhân chuẩn bị. “Cách mạng” lấy của họ nhà, xe... đuổi cổ họ vào rừng, không cho họ bất cứ thứ gì, trong mười ngày. Thông báo của Ủy ban Quân quản đã nói rõ đó thôi: “Đi học tập, tự túc lương thực trong mười ngày.” Con vượn người không cần đánh răng, tắm rửa, không cần cơm gạo vẫn sống được kia mà.
 
***
 
Ngày thứ mười một.
 
Tù nhân kháo nhau:
- Bỏ mẹ rồi, hết cha nó mười ngày trong này mà vẫn chưa thấy tụi nó nói gì về chuyện thả!
- Cứ từ từ. Thế nào tụi nó cũng phải đề cập tới số phận tụi mình chứ.
 
Kẻ bi quan nhận xét:
- Tao tin là tụi mình bị lừa một vố nặng. Cá vô rọ rồi, đừng hòng trở ra!
 
Kẻ lạc quan mơ mộng:
- Tụi nó chỉ muốn xem phản ứng của mình thôi. Không thấy gì, tụi nó sẽ thả hết nay mai...
- Tao nhớ nhà quá! Chắc vợ tao đã sanh con đầu lòng rồi! Bả sắp sanh thì tao phải đi.
- Lương khô sắp cạn rồi! Biết lấy gì mà gặm đây? Một kẻ khác la hoảng:
- Sao tao cảm thấy ngứa ngáy khắp người... Hồi nào tới giờ đâu có bị như vậy.
 
***
Ngày thứ hai mươi tám.
 
Tù nhân được lệnh tập hợp tại một bãi trống để nghe chỉ thị. Một kẻ mặc quân phục màu ô-liu, đội mũ cối, không rõ cấp bậc vì không có gắn sao trên cổ áo, bước tới từ một góc rừng. Tiếng xầm xì nổi lên:
- Lần đầu tiên tao thấy quân đội của một xứ không mang giày mà mang dép.
- Sao không có chào tay gì hết trọi?
 
Tới trước những hàng tù, gã dừng lại quay mặt về phía họ. Tự nhiên tiếng ồn ào im bặt:
- Thưa các đồng chí!
 
Như sực nhớ ra, hắn im lặng một hồi rồi nhắc lại:
- Chào các anh. Tôi là thủ trưởng tiểu đoàn này, xin thay mặt đảng và nhà nước thông báo để các anh rõ: trong thời gian tới, các anh sẽ bắt tay vào việc dựng hội trường, làm nhà ở để chuẩn bị học tập chính sách khoan hồng của cách mạng. Mọi người lại bắt đầu bàn tán:
 
- Cha nội này là ai vậy kìa? Tao đếch hiểu thủ trưởng là cái quái gì.
- Thì chắc là một thứ xếp gì đó.
- Mày đoán xem, nó mang cấp bậc gì ?
- Ai mà biết. Nó có mang sao, tao cũng chịu thua. Thằng nào cũng mang sao, toàn là cấp tướng. Cóc có thằng nào chịu mình binh nhì.
- Sếp gì mà coi lè phè quá trời. Quần áo rộng rinh, giống tân binh quân dịch.
 
Ở một góc khác của đám đông, đề tài có vẻ nóng bỏng hơn:
- Hắn vừa nói cái gì? Tai tao nghe lầm chăng? “Trong thời gian tới sẽ dựng hội trường, làm nhà, học tập chính sách.” Vậy tức là mình còn ở đây dài dài?
- Mày đâu có nghe lầm. Nhưng ở đây bao lâu nữa thì phải hỏi nó chứ sao lại hỏi tao.
 
Một tù nhân giơ tay xin phát biểu ý kiến:
- Thưa anh thủ trưởng, xin anh trả lời cho chúng tôi biết, phải chăng có chuyện lầm lẫn về vấn đề thời gian? Ủy ban quân quản đã ra thông cáo nói rằng chúng tôi chỉ phải đi học tập mười ngày mà giờ này đã là tuần lễ thứ tư...
 
Tên thủ trưởng nở nụ cười khó hiểu, nửa trông nham hiểm, nửa như cười thương hại bọn tù nhân ngây thơ. Sau đó hắn nghiêm mặt trả lời:
- Để rồi tôi sẽ phản ánh việc này lên để trên giải quyết. Tạm thời bây giờ tôi tiếp tục tiến hành chỉ thị của trên là thu tiền ăn mười ngày của các anh để sẽ lo lương thực cho các anh bắt đầu từ ngày mai.
 
Ngừng một chút, hắn tiếp:
- Các anh nhà trưởng có nhiệm vụ thu tiền ăn của mỗi người trong nhà mình và đem nộp cho tiểu đoàn ngay hôm nay. Nhớ lập danh sách rõ ràng những ai không nộp tiền ăn.
 
Và hắn cho lệnh giải tán. Tan hàng xong, mọi người bắt đầu nhốn nháo. Kẻ móc túi, người nhét tiền vào túi giùm “cách mạng.” Cảnh đếm tiền, thối tiền lại diễn ra giống như một cái chợ. Kẻ nhát gan thì nộp đủ số tiền nhà nước đòi hỏi, ngươi to gan lớn mật lắc đầu nguầy nguậy:
- Cứ thử không đưa xem tụi nó làm đếch gì được tao. “Cách mạng” dặn tao tự túc lương thực sao lại còn bắt tao trả tiền? Lột nhau kỹ thế, cướp cạn à?
- Câm cha cái mồm mày đi! Bộ muốn tụi nó nhốt đến mãn đời hay sao mà chửi vung vít lên? Nín thở qua sông cho rồi. Tao chịu cảnh này hết nổi, bực bội trong người quá, lại thêm cái màn “khảy đờn” mỗi đêm, ngủ ngáy gì được đâu.
 
***
Ngày thứ ba trăm sáu mươi lăm.
 
Đôi ba tù nhân vừa cắt tranh về, áo quần ướt đẫm vì mồ hôi lẫn nước mưa. Người nào người nấy mặt mũi, tay chân lấm lem do đất trộn lẫn với tro của những khu rừng bị cháy rụi. Họ liệng đánh phịch những bó tranh được cột vào nhau xuống đất, đứng thở một hồi lâu. Người này xắn tay áo lên, kẻ kia giơ ống tay áo bẩn và rách bươm lên nhìn vào cánh tay mình. Ở đó nhiều vết xước đủ hình dạng và đủ kích thước, chỗ nông, chỗ sâu, ửng lên màu đỏ tươi. Một người tặc lưỡi:
- Phải chi gãi được thì đã biết mấy...
- Lỡ gãi cho nó tóe máu là vô phương lành nghe mậy. Tốt nhất là đi hơ lửa.
- Hơ lửa thì chỉ được hai cái tay hay cùng lắm là lưng quần, hai ống quyển. Cái ót cũng ngứa chịu không được.
- Mình nghỉ một chút rồi đi tắm, nghe?
 
Người kia trả lời:
- Còn phải bện nữa. Không đủ chỉ tiêu là bị bắt làm thêm giờ chứ chơi sao. Tao không thích nhịn đói làm phụ trội.
 
Một người bước vào gian nhà tranh, định tới bên giường nằm của mình tìm cái gì đó, khi đi ngang chiếc mùng giăng kín mít bỗng dừng lại:
- Ê vua ghẻ, mày làm cái giống gì mà ở hoài trong đó?
 
Người nằm trong mùng cười hềnh hệch, đáp lại:
- Tao đang ngâm thơ cụ Hương đây.
- Thơ gì?
- Ngồi buồn gãi háng d... lăn tăn.
- Vậy sao? Bữa nay thấy đỡ hơn chưa?
- Đỡ mẹ gì, càng ngày càng tệ!
- Mày có xin thuốc gì xức không ?
- Thuốc “khắc phục.” Nó bảo tao ngâm nước muối. Càng ngâm càng thấy lở thêm, lở trên lở dưới, chỉ còn chừa có cái mặt để tao còn nhận ra tao trong gương thôi.
 
Người đứng ngoài cười khẩy, nói thêm một câu trước khi bước về phía giường hắn:
- Còn bày đặt soi gương! Con vợ mày mà gặp lại mày ngay bây giờ chắc cũng phải chạy xa cả thước.
- Được vậy còn phước. Sợ tao bỏ xác ở đây chỉ vì cái thứ bệnh quái quỷ này quá...
 
Nắng bỗng lên, mặt trời chui ra khỏi mây nhìn xuống đám tù nhân lố nhố bên dưới cười thông cảm. Toán đi cắt tranh khi nãy lục tục kéo nhau ra sân ngồi bện tranh thành tấm. Người đang làm việc thì sợ ánh nắng mặt trời làm họ chảy mồ hôi. Càng ra mồ hôi, cơ thể họ càng nhớp nháp làm những chỗ đứt, trầy trụa trở nên bỏng rát thêm. Lại gặp phải cỏ tranh, thứ cỏ lá dài và có răng cưa li ti, không ai chịu được sự ngứa ngáy do loại cỏ đó gây ra.
 
Trong lúc đó, những người đang nằm trong mùng mừng vô hạn khi thấy ánh nắng. Họ bò ra khỏi chỗ, lết tới đứng vịn vào lớp hàng rào ngăn lối đi và vườn rau. Họ đang làm những con nhộng, phơi trần tất cả các phần thân thể ra giữa trời. Chẳng ai cảm thấy xấu hổ cả. Chỉ có cách tiêu diệt phần nào đỡ phần nấy những con vi trùng, những con cái ghẻ đang bám trên cơ thể họ bằng ánh nắng mặt trời thôi, ngoài ra làm gì kiếm được thuốc chữa trong giai đoạn này. Vả chăng, chỉ có giống đực với nhau, ngại gì kia chứ?
 
Để giết thì giờ, những kẻ đồng bệnh bèn gợi chuyện:
- Mới hai tuần trước còn thấy ông đi lao động mà?
- Đúng vậy. Đùng một cái nó nổ ra tung tóe đỡ không kip.
- Phơi đã chứ?
- Không có gì quý hơn được phơi tự do ! Hồi xưa tôi cứ chửi mấy thằng Tây no cơm ẩm cật, bày trò trở về với thiên nhiên. Nay nhờ có “cách mạng” tôi mới thấy bọn mình được dịp làm người Tây phương theo kiểu không cần quần áo.
 
Người vừa nói xong câu đó bỗng quơ tay như muốn chụp bắt vật gì.
- Nhưng chỉ chào thua mấy con ruồi. Sao mà chúng nó đánh hơi khá quá, hở ra là chúng bu lại.
 
Rồi hắn cười thương hại, nhìn theo con ruồi bay đi đậu lên hàng rào:
- Tao cũng còn đói, huống chi mày...
- Ông bạn nè, hồi xưa ông có đọc cuốn sách dành cho con nít mà trong đó có một nhân vật mang biệt danh Vọng ghẻ Tàu chưa?
- Có. Rồi sao?
- Tụi bạn của thằng Vọng cho rằng Mã Viện mang thứ ghẻ này qua Việt Nam nên gán cho nó cái tên ghẻ Tàu. Ông nghĩ thứ ghẻ này cũng là tàn dư của Mã Viện?
 
Người nọ lắc đầu:
- Ghẻ Tàu sao được? Con cháu Mã Viện ở ngay trong lòng thủ đô Sài Gòn bao nhiêu năm mà có ai thấy chứng ghẻ tràn lan như bây giờ đâu?
- Cái bệnh quái đản! Lẽ ra, nếu như “người anh em” chơi đẹp thì đã phát cho tụi mình xà phòng đen để làm cỏ ba con cái ghẻ..
- Đào đâu ra xà phòng đen? Dân Sài Gòn còn bị ghẻ nữa huống hồ gì tụi mình. Tôi mới nghe gia đình nói lại như vậy. Ông có nghĩ là tại mình ở bẩn mà sanh ghẻ không?
- Ở bẩn thế nào được? Ngày nào lại không tắm? Nhưng càng tắm càng chết. Này nhé: nước độc, nhựa cây độc, gai góc có mủ độc, thiếu dinh dưỡng... Bữa cơm, bữa khoai bắp, cả năm mới thấy một miếng thịt heo bằng ngón chân cái thì cơ thể lấy gì chống đỡ lại vi trùng? Làm gì có cái bàn hòa đàm Paris trong cơ thể mà hòng thằng yếu thắng thằng mạnh!
- Vậy ông muốn bảo rằng đây là loại ghẻ thời đại?
 
Người nọ nhìn quanh một vòng xong rồi trả lời:
- Ghẻ Hà Nội chứ gì nữa. Không có quý ngài đó vào đây năm bảy mươi lăm thì đâu xảy ra cớ sự!
Nói dứt câu, hắn ta ngẩng mặt nhìn trời cười khoái trá như một kép hát đang thủ vai Thành Cát Tư Hãn. Nhìn lâu quá nên sau đó hắn nhảy mũi liên tiếp mấy cái.
- Ông bạn có thấy tên trông như người Đại Hàn đang đứng ở cuối rào phơi nắng kia không?
- Ai vậy?
- Nguyên vô địch nhu đạo Đông Nam Á đó. Giờ này tả tơi như cái mền. Cũng mang hỗn danh vua ghẻ như ai.
- Nghe danh anh ta từ lâu, nay mới biết mà tiếc quá, người hùng đã thành kẻ ruồi bu.
- Có đồ sộ như mấy thằng chơi wrestling trên băng tần số mười một thì giờ này cũng gục như thường ông ơi.
 
***
 
Ngày thứ vài ngàn.
 
Tù nhân bị bệnh tập trung vào hội trường để được y sĩ “cách mạng” cho thuốc. Đứng ngoài nhìn vào, chỗ đó giống như một nhà lồng chợ. Kẻ đứng người ngồi hoặc chống gậy đi đi lại lại, nhìn nhìn ngắm ngắm. Y sĩ là một tên lùn tịt, mặt búng ra sữa, mặc đồ trận theo thời trang của năm bảy mươi lăm, chân đi dép lốp xe hơi và không đeo ống nghe trước ngực. Lần nào như lần nấy, khi đi cho thuốc người bệnh, hắn cẩn thận yêu cầu một bác sĩ tù đi kèm. Ông bác sĩ này trước đây phục vụ tại một bệnh viện tiểu khu, từ ngày vào rừng được giao cho công tác sưu tầm và nấu thuốc nam kiêm soạn sách y khoa liệt kê các loại thuốc tây phiên âm ra tiếng Việt, theo kiểu “pê-ni-xi-lin, xì-trếp-tô-mi-xin...” cho các y sĩ từ miền Bắc vào dễ đọc hơn, cùng công dụng của các thứ thuốc đó. Mỗi khi sắp hạ bút ghi vào sổ, chú y sĩ thường kề tai ông bác sĩ nói nhỏ một câu gì đó. Hễ ông bác sĩ gật đầu là mắt chú y sĩ sáng hẳn ra, tay ngoáy cây bút nhanh như chớp trên tờ giấy. Cuối giờ cho thuốc, bao giờ chú ta cũng dặn ông bác sĩ: “Tí nữa anh lên gặp tôi nhé!”
Thủ tục tiến hành hôm nay không khác gì những ngày trước đó. Tù ghẻ được hỏi tên để ghi sổ và được phát một lọ thuốc đỏ dùng thoa da. Tù “liệt sĩ” và tù phù thủng kém may mắn hơn, chỉ được cho nuốt một viên thuốc bé tí xíu màu hồng thường được gọi là “thuốc động viên,” rồi sau đó phải nghe lời khuyên nên chạy tới chạy lui lăng xăng và nên lấy cám gạo mà nấu uống hoặc ăn cho có sinh tố. Bỗng dưng, tù ghẻ được lệnh ngồi lại chờ cho tới khi chấm dứt cuộc cho thuốc.
 
Chú y sĩ đuổi tù “liệt sĩ” và tù phù thủng ra khỏi hội trường xong, lục lấy trong ba lô ra ít lọ thuốc chích trụ sinh, một ít gòn, một lọ thuốc đỏ và hai ống chích. Lần lượt, từng người tù ghẻ được gọi tên tiến tới trước mặt hắn. Họ phải sắp hàng một, khỏi cần vén tay áo lên vì hầu như không ai mặc quần áo gì mà chỉ quấn quanh bụng bằng cái khăn tắm hoặc tấm vải trải giường. Ghẻ lở đầy người, chỗ nào cũng mưng mủ, ngứa ngáy, đau rát nên chỉ còn cách dẹp áo quần sang một bên, trần truồng được càng tốt. Chú y sĩ vừa rút thuốc từ lọ vào ống chích vừa gãi lấy gãi để, bộ dạng như sắp sửa đến ngày chính chú ta phải được chích trụ sinh như đám người đang xếp hàng kia. Tay giơ ống chích lên, tay cầm miếng gòn tẩm thuốc đỏ để sát trùng thay cồn, chú ta quát tháo luôn miệng:
- Các anh đứng xa tôi ra xem nào. Đừng chạm vào người tôi!
 
Mũi kim vừa mới đâm vào cánh tay người tù ghẻ thì chú y sĩ đã vội rút ra, không hiểu có tí thuốc nào lọt được vào thớ thịt chưa.
- Đến lượt anh kế tiếp!
 
Cứ thế, chích mãi mà thuốc vẫn còn trong ống. Nhưng lạ nhỉ, người nào bị ghẻ có mặt tại đó cũng đều được chích. Ông bác sĩ tù thấy vậy xòe bàn tay ra trước mặt như đang thề trung thành tuyệt đối với tổ quốc xã hội chủ nghĩa:
- Khoan đã anh!
- Cái gì thế?
- Tôi đề nghị thế này: Anh chọn ra một vài người bị nặng nhất mà chích cho mỗi người một ống nguyên. Chứ chích như thế này sẽ chẳng ai khỏi bệnh cả mà lại thêm quen thuốc, khó chữa hơn.
 
Chú y sĩ dừng tay lại suy nghĩ. Bình thường hắn vẫn xem ông bác sĩ tù như sư phụ, nhưng hôm nay hắn cho rằng ông bác sĩ này sai đường lối, bèn trả lời:
- Anh nói thế mà nghe được à? Ai cũng như ai, tất cả đều bình đẳng trong xã hội mới. Người nào cũng được chích một tí trụ sinh, thế mới công bằng chứ!
 
Vài người tù ghẻ rời khỏi hàng bỏ đi ra ngoài hội trường. Vừa đi họ vừa cởi phăng tấm vải quấn ngang bụng, đưa những cặp mông ghẻ lở về đằng sau.
 
NGUYÊN NGHĨA
(tuyển tập truyện ngắn “Chờ chết” [“Waiting for their names being called”], nxb Xuân Thu xuất bản tại Hoa Kỳ, 1989)