Showing posts with label Biển Đông - Hoàng Sa - Trường Sa. Show all posts
Showing posts with label Biển Đông - Hoàng Sa - Trường Sa. Show all posts

Wednesday, 28 May 2014

Những bài viết khác

Nhân chứng sống kể về trận
hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Mời xem video clip dưới đây về trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, khi đó Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã đụng độ với hải quân Trung Cộng, để bảo vệ lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa trước sự xâm lăng của Trung Cộng.


Nguồn: YouTube, Paris by Night 91 (Huế Saigon Hà Nội)
http://www.youtube.com/watch?v=tbJoJQtQn5o

Sunday, 18 May 2014

Những bài viết khác

Sài Gòn: 

Mật vụ cộng sản điên cuồng đánh đập sinh viên cầm biểu tượng cờ vàng

  


CTV Danlambao - Một đoạn video do facebook Quang Cảnh chia sẻ cho thấy những hình ảnh côn an – côn đồ đánh người điên cuồng trong cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm lược tại Sài Gòn sáng ngày 18/5/2014.

Trong video, một sinh viên mặc áo trường y tên Lâm Vanda đã bị nhiều côn an mật vụ hành hung và bắt đi thô bạo chỉ vì cầm biểu ngữ in hình cờ vàng ba sọc đỏ – lá cờ đại diện cho chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Biểu ngữ do bạn sinh viên người Việt gốc Khmer giơ cao có nội dung “Chúng tôi tham gia biểu tình ôn hòa nhằm phản đối chính phủ Trung Quốc. Kêu gọi quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Đoàn Kết là sống, chia rẽ là chết”.


Phía dưới là biểu tượng liên minh giữ 3 lá cờ, gồm cờ đỏ sao vàng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, cờ Hoa Kỳ nhằm đối chọi lại lá cờ đỏ 5 sao vàng của Trung Quốc. 

Khoảng 09:50, khi đoàn biểu tình đi đến trước trụ sở ủy ban nhân dân quận 1 thì một tên côn đồ đeo kính, mặc áo trắng (trên áo in cờ đỏ sao vàng trước ngực) lao đến bất ngờ đấm mạnh vào mặt Lâm Vanda.

Đồng thời, một thanh niên khác cũng kẹp cổ Lâm Vanda, tạo điều kiện cho tên côn đồ tiếp tục đánh đấm thêm nhiều lần. Cùng lúc này, rất đông an ninh thường phục lao đến khống chế nạn nhân và xô đẩy người dân.



Đồng thời, lực lượng mặc áo trật tự đô thị lập tức xuất hiện tạo thành một vòng vây ngăn cản người dân muốn can thiệp. 

Ngay sau đó, Lâm Vanda liền bị CA cưỡng chế đưa lên xe chở đi đâu không rõ. Còn tên côn đồ vẫn bình an vô sự do được đảng bảo kê cho hành vi đàn áp, đánh đập người dân yêu nước.

Trước đó, trong cuộc biểu tình hôm 11/5/2014, bạn sinh viên Lâm Vanda này đã cầm biểu ngữ có nội dung “Đồng lòng cùng chánh quyền chống lại giặc phương Bắc”, phía dưới là biểu tượng lá cờ đỏ sao vàng.

Hành động đàn áp biểu tình sáng 18/5 tiếp tục là bằng chứng cho thấy nhà cầm quyền CS Việt Nam đã tiếp tục tỏ ra khiếp nhược trước nhà cầm quyền CS Trung Quốc thông qua những thỏa ước ngầm. Riêng tại Sài Gòn, ít nhất 30 người đã bị côn an bắt đi mất tích chỉ vì tham gia bày tỏ lòng yêu nước ôn hòa.

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.co.uk/2014/05/sai-gon-ca-mat-vu-ien-cuong-anh-ap-mot.html

Sunday, 29 July 2012

Những bài viết khác


Blog Hồn Trẻ 20 đăng tải nơi đây "Hoàng Sa Nộ Khí Phú" là một tiếng thét hào khí chất chứa phẫn nộ của Kha Tiệm Ly - một tác giả trong nước - trước cảnh những kẻ tuy cầm quyền nhưng gục mặt cúi đầu không can đảm xác nhận chủ quyền trên lãnh thổ của một dân tộc tự hào có quá khứ "chưa hề khuất phục ngoại xâm".

Mời bạn đọc. Dưới đây là:
Hịch Hoàng Sa, Trường Sa


HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ
Kha Tiệm Ly - Thái Quốc Tế

Ngựa cũ quen đường,
Đĩ già lậm nết.
Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
Mộng bá chủ bao đời y hệt!

Ta thấy ngươi,

Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!
Đã biết,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.

Vậy mà sao,

Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân chiếm đất?

Như nước ta,

Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long, là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu lẽ tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
Mà là khối giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ
bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà
con vịt. (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:
Thương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang (2)
Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút.(3)
Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,
Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc.

Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,
Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập.
Giúp các ngươi như kẻ một nhà,
Thương các ngươi như người chung bọc!

Thế mà nay,

Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.

Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,
Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc.
Chẳng chấp hải qui,
Chẳng theo công ước.
Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,
Lậm thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.

Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:

Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,
Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc.
Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông,
Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!
Vì khát tự do mà uống nước đìa,
Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt.
Sá chi tóc gội sa trường,
Đâu quản thây phơi trận mạc.

Hãy liệu bảo nhau,

Nhìn thây Gò Đống mà liệu thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?

Thư hãy xem tường,
Hoàng Sa hạ bút.

Kha Tiệm Ly - Thái Quốc Tế 

--------
(1) Sử ghi: Khi Lý Thường Kiệt xua quân qua Khâm Châu, Liêm Châu, cũng như khi quân Thanh bại trận Đống Đa chạy về, thì dân Tàu vùng biên giới kinh hoàng chạy theo. “Từ Nam Quan về bắc hàng trăm dặm vắng tanh, không thấy bóng con gà, con vịt”
 (2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thực cho tù binh quân Minh về nước
 (3) Sự kiện dân ta lập miếu thờ Sầm Nghi Đống, hạ tướng của Tôn Sĩ Nghị.



Tác giả Kha Tiệm Ly

NguồnVườn thơ Kha Tiệm Ly

Saturday, 30 July 2011

Những bài viết khác

Blog Hồn Trẻ 20 đăng nơi đây thêm một bài thơ gửi ra từ trong nước, tuy tác giả chưa từng góp bút trong nhóm Hồn Trẻ 20. Bài thơ nghe như một tiếng kêu bi thương, nhưng âm ỉ trong đó là một tiếng thét dũng khí. Mời bạn đọc:

LÊ THỊ THANH TÂM
Mộ Gió

"Tôi không nỡ sinh nó ra trong trời đất,
rồi lại để nó đi không một dấu vết gì!".
                 (lời một người mẹ Lý Sơn)

Mộ gió
Mộ gió
Tôi thường tự hỏi thế nào là mộ gió?
Những ngôi mộ dài theo bờ biển quê hương
có từ ngày làm lễ khao lề trên đảo Lý Sơn.

Tôi thường tự hỏi thế nào là ra đi không trở về?
Người ra đi nghĩ gì, và người ở lại?
Những hải đội Hoàng Sa nhắm thẳng đại dương bằng ghe bầu
Những thế lính bỏ thân trong biển lạnh.

Tôi thường tự hỏi thế nào là mang theo cái chết
trong hải trình dài?
những “tấm chiếu, bảy đòn nẹp tre, bảy dây mây buộc và thẻ bài”
cùng muối, gạo, khô mắm
nuôi đoàn người trong dăm bảy ngày phiêu bạt
và nhắc họ âm thầm

sẽ quay về đất liền bằng tấm chiếu manh
gói xác thân bằng nẹp tre quê hương
buộc dây mây để trôi về cố lý
và thẻ bài để người ta đặt cùng linh vị
Những người lính Hoàng Sa.

Tôi thường tự hỏi khi người chiến sĩ ôm cờ chết giữa biển Đông
anh mang theo điều gì trước khi nhắm mắt?
Anh thanh thản, an lành hay đắng cay, day dứt?
anh có trở về ngôi mộ gió
nơi mẹ anh vẫn mặc áo anh và ra thắp hương mỗi tháng năm!

Tôi thường tự hỏi trên bãi Gạc Ma,
khi kẻ thù xả súng vào các anh
từng đồng đội ngả dần trước mắt, từng hồng cầu tan ra trong biển mặn
các anh đã nguyện ước gì cho lãnh hải biên cương?
Giờ đây, biển tổ quốc bừng lên cơn bi hận
Sáu mươi bốn hồn vía năm xưa, bảy mươi hồn vía năm xưa, có cuộn sóng trở về?


Tôi thường tự hỏi thế nào là mộ gió?
Có phải vì mộ không có thân người
Gió là gì, gió thổi các linh hồn
Hay gió nối đất liền và biển cả
Keo sơn không rời.

Hay gió mang cát bay lên trong không gian
Cơn cuồng phong thề nguyện:

Không kẻ nào được phép xóa mờ biên cương
Đã từng đổi bằng xương bằng tủy!

Tôi thường tự hỏi thế nào là mộ gió?
Mộ sống trong gió hay mộ làm nên gió
Thổi qua những khuôn mặt mẹ đã quá đớn đau
Thổi qua tim những người vợ đã cạn rồi nước mắt
Thổi qua lòng những đứa con vẫn quyết tâm ra trận
Thổi lên đồng bào tôi những giây phút tử sinh này.


Tôi thường tự hỏi thế nào là ra đi không trở về?
Vong thân mà không vong quốc
“Vị quốc vong thân”!

Ôi những linh hồn vẫn đi về mộ gió
Xin hãy mang gió đến muôn nơi..
Thổi quốc hồn vào những kẻ không còn trái tim
Phản bội giống nòi.
Đặt vào lồng ngực bọn vong nô
Những ngôi mộ gió.

28-7-2011
Lê Thị Thanh Tâm


Saturday, 18 June 2011

Những bài viết khác

Một bài thơ gửi ra từ trong nước,
viết về người láng giềng phương Bắc.

VŨ DUY CHU
Láng giềng

Anh em xa bận lo việc họ rồi
Ta còn có người anh láng giềng phương Bắc
Người lớn dạy ta ca từ thuở ta con nít
Việt Nam Trung Hoa
Núi liền núi, sông liền sông…
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông…

Sử sách ghi phương Bắc đô hộ ta một nghìn năm
Nhưng chưa bao giờ ông cha dạy ta khai quật nỗi đau quá khứ
Mặc áo lính kaki Tô Châu, chắc tay cầm vũ khí
Ta chiến đấu vì Tổ quốc ta
Còn anh âm thầm toan tính ta trong thế sự cuộc cờ

Ta đã ngủ mơ
Kịp tỉnh dậy lúc anh đang trò đi đêm trước trận đánh cuối cùng lịch sử
Tham vọng như cây kim trong bọc giẻ
Ta đâu nỡ mở bọc ra, lộ rõ mặt anh mình

Anh đánh thức những âm binh dưới chín tầng địa ngục Hán, Nguyên Mông
Cùng bao đạo quân trùng trùng nửa đêm tràn qua biên giới
Sông giành giật sông, núi giành giật núi
Cột mốc biên cương nhuộm đỏ máu dân lành

Những cột mốc đường biên hữu nghị hoà bình?
“Lưỡi bò” liếm biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa tiên tổ
Những cạm bẫy ngọt lừ, những li rượu Mao Đài thuốc ngủ
Ta rước anh vào nhà, lông ngỗng bay trắng trời Mỵ Châu

Chẳng có lý do nào dân mình nghi kỵ nhau
Nhìn anh đặt lên mái nhà Tây Nguyên quả bom bùn đỏ
Những dự án tỏ mờ, thuế dân nghìn tỷ
Canh bạc đỏ đen nhức nhối trái tim người
Tôi yêu Tổ quốc tôi, chín bỏ làm mười
Nhưng không thể yêu bằng tình yêu bạc nhược
Bởi Tổ quốc chính là máu thịt
Việt Nam ơi!

Sài Gòn, 7.6.2009

Những bài viết khác

Đảo Hoàng Sa trên báo chí Phật giáo Việt Nam

LTS: Cách nay 70 năm, bán nguyệt san Đuốc Tuệ(1) - cơ quan hoằng pháp của Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã đăng tin về quần đảo Hoàng Sa. Do tính chưa đồng bộ của phương ngữ thời đó, nên trong báo viết là Hoàng Sa, có khi viết là paraccis, lúc gọi là Tây Sa, để quí vị độc giả tiện theo dõi, chúng tôi thống nhất một tên là Hoàng Sa. Nhân sự vụ tranh chấp chủ quyền đang diễn ra tại quần đảo này, chúng tôi xin trích đăng lại những thông tin về đảo Hoàng Sa được đề cập trên một cơ quan ngôn luận của Phật giáo.

Đảo Hoàng Sa

Đuốc Tuệ số 90 ra ngày 1-8-1938  
Việc đảo Hoàng Sa đã tiệm yên

Chính phủ Đông Dương đã chính thức nhận đảo Hoàng Sa ở trong bể Nam Hải, trước Huế trông ra, một nơi cửa ngõ giữa Đông Dương, đường hàng hải Nam Dương(2) qua Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản tất qua đó.
Đây là một nơi rất trọng yếu về quân sự trong trông ra ngoài trông vào của Đông Dương. Trường tầu bay(3), nơi đỗ tầu chiến, vô tuyến điện đài, chiếu hải đăng đều cần có ở đó để làm nơi phòng ngữ. Mất Hoàng Sa tức là Đông Dương mất cái điếm canh cửa ngõ.

Đảo Hoàng Sa từ đời vua Gia Long(4) đã thuộc về nước Nam quản cố. Gần đây Nhật để ý, Tầu(5) cũng đòi. Vì kế phòng thủ Đông Dương, chính phủ Pháp lấy sự thực trên lịch sử đảo ấy là của nước Nam nên đã chính thức phái chiến hạm và lính khố xanh ra giữ đảo Hoàng Sa(6).

Nhật Bản trước kháng nghị, nhưng rồi biết phải(7) cũng đã êm êm, nên chỉ xin chính phủ Đông Dương bảo hộ cho kiều dân Nhật đến lấy phốt phát(8) ở đấy và xin cung cho Nhật ít sắt.

Đuốc Tuệ số 91 ra 15-8-1938
Tin thêm về đảo Hoàng Sa
 

Nước Pháp thay mặt nước Nam đã cho tàu chiến ra trú phòng và cho hiến binh lên một hòn trong quần đảo Hoàng Sa giữ quyền địa chủ(9). Người Nhật trước còn kháng nghị, sau cũng êm, xin lính nước Pháp bảo hộ cho Nhật kiều lấy phân bón ở đấy và xin cấp cho họ ít sắt.

Ngày 15-7 vừa rồi người Nhật đem tàu chiến đến chiếm lấy một hòn đảo khác ở trong quần đảo Hoàng Sa. Trong quần đảo này có hai hòn to còn thì bé nhỏ quá và có nhiều hòn còn lờ mờ dưới nước(10). Nước Pháp giữ được một hòn to ở ngay giữa đường tầu đi Hồng Kông - Sài Gòn, còn hòn kia thì ở cách xa, xế về mé Đông.

Nếu điển cố mà có thế lực trong quyền sở hữu đảo Hoàng Sa này, phi nước Nam không còn ai nữa. Bởi vậy các báo đã lục đăng hết những văn thư của bản triều có can hệ đến đảo Hoàng Sa ra. Nhưng một cái chúc thư vừa lâu vừa có giá trị hơn cả là ở trong sách Phủ biên tạp lục của cụ Lê Quí Đôn (1726-1784) chép từ Hậu Lê, nói về chúa Nguyễn trước đây cho đội lính làng An Bình, Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa(11) lấy hải vật, có cả đoạn công văn chúa Nguyễn sai quan phúc đáp quan Huyện bên Tầu hộ tống 2 tên lính đội Hoàng Sa bị bão rạt sang bên ấy về nước ta. Việc vào năm Càn Long thứ 19 (1751)(12). Báo Tiếng Dân đã lục tường. Coi đó biết cái học cụ Lê Quế Đường thực dụng là dường nào. 

(1) Đuốc Tuệ số 1 ra ngày 10 tháng 12 năm 1935, lúc đầu là tuần báo, từ 1937 mỗi tháng ra hai kỳ. Chủ nhiệm là Nguyễn Năng Quốc - Chánh Hội trưởng Hội Phật giáo Bắc Kỳ; Chủ bút là Hòa thượng Phan Trung Thứ trụ trì chùa Bằng Sở, Hà Đông; Phó Chủ bút là Hòa thượng Dương Văn Hiển, trụ trì chùa Tế Cát, Hà Nam; Quản lý là Cung Đình Bính. Số cuối cùng là số 257-258 ra ngày 15 tháng 8 năm 1945.

(2)  Nam Dương tức Indonesia.

(3)  Trường tầu bay tức sân bay.

(4) Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, làm vua từ 1802-1820. Năm 1816, Gia Long ra đảo Hoàng Sa long trọng cắm cờ xác nhận chủ quyền trên đảo. Sự kiện này đã được JB.Chaigreau ghi lại trong sách “Le mémoire sur la cochinchine” đăng ở Bulletin dé Amis du Vieux Hué N02, 4-6/1923).  

(5)  Tầu tức Trung Quốc, lúc đó do Tưởng Giới Thạch làm Tổng thống.

(6) Từ 1883 Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, người Pháp chiếm lĩnh luôn quần đảo Hoàng Sa. Năm 1899, Pháp dựng một ngọn hải đăng trong quần đảo này. Năm 1920, quan thuế Pháp đưa hải thuyền tới thường xuyên kiểm soát quần đảo. Năm 1930, tàu Malicieuse đổ bộ vào Hoàng Sa, dựng cờ chiếm hữu. Năm 1938 Pháp đã dựng bia chủ quyền ghi rõ: République Francaise/ Empire d’ Annam/Archipel des Paracels/ 1816 - Ile de Pattle - 1938. 

(7) Ý nói Nhật Bản biết rõ về mặt pháp lý quần đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam nên không kháng nghị việc Pháp đưa tàu chiến và binh lính ra quần đảo Hoàng Sa nữa.

(8) Hoàng Sa có mỏ phốt phát với trữ lượng lớn, đang khai thác.

(9) Quyền địa chủ tức chủ quyền về đất đai, ở đây nói Việt Nam là chủ sở hữu hợp pháp của quần đảo Hoàng Sa.

(10) Tức đảo chìm.

(11) Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007, trang 152 - 153 (quyển II Hình thế núi sông, thành lũy, trụ sở, đường xá, bến đò, nhà trạm hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam) viết: Phủ Quảng Ngài, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển; ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao (đảo), các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển,cách nhau một ngày đường hoặc vài canh. Trên núi (đảo) có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng  dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy...  Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 xuất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba (ba ba biển), hải sâm hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo (tức cửa Tư Hiền), đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; Giáp Thân được 5100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quí Tỵ, 5 năm ấy chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và 2 khẩu súng đồng mà thôi” (Dưới triều Tây Sơn các việc trên do thủy quân đảm nhiệm. Vua Gia Long nhà Nguyễn sau nay khôi phục lại hình thức “đội Hoàng Sa” đến đời Tự Đức mới bỏ. Năm 1835 vua Minh Mạng sai Phạm Văn Nguyên mang quân lính ra Hoàng Sa dựng bia xây miếu, trong 10 ngày đã làm xong. (Theo Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, 2006, tập 2 và Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (viết năm 1933), Nxb Thuận Hóa, 1997).

(12) Phủ biên tạp lục viết: Bãi Hoàng Sa gần phủ Quỳnh Châu của Hải Nam. Người đi thuyền một hôm gặp thuyền đánh cá của người Bắc quốc giữa biển hỏi nhau, từng thấy công văn của quan chính đường gửi cho xứ Thuận Hóa, trong nói rằng năm Càn Long thứ 19, có mười quân nhân người xã An Bình thuộc đội kiếm vàng huyện Tư Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An Nam, hồi tháng 7 đến Vạn lý Trường Sa (tức Hoàng Sa) kiếm lượm các vật, tám người lên bờ tìm kiếm, chỉ còn hai người giữ thuyền, gặp bão đứt neo, giạt đến đảo Thanh Lan, quan địa phương tra thực, áp trở về quê quán...”.

Nguyễn Đại Đồng sưu tầm và chú thích