Showing posts with label Phù Sa Lộc. Show all posts
Showing posts with label Phù Sa Lộc. Show all posts

Sunday, 19 March 2023

Tác phẩm khác của tác giả Hồn Trẻ 20

Sa mưa
PHÙ SA LỘC
       
     
        Trời đang nắng chợt sa sầm màu mây đùng đục. Tiếng gió lộng rào rạt ngoài hiên. Rồi tiếng lộp độp rơi vang mái tôn các căn nhà lân cận. Mưa chăng? Tôi vội ra ban công căn gác nhỏ. Chưa kịp nhìn mái các căn nhà xung quanh, đã thấy hàng hà sa số những trái sao lả tả bay quần trên không trước khi đáp đậu trên khắp các nơi. Ôi, mưa trái sao sao mà ngây ngất quá. Chợt nhớ chừng ba chục năm trước. Cũng tại chốn này. Đầu con hẻm nhà tôi. Ngoài công viên hình tam giác được bao bọc bởi chòm sao già tỏa mát ba con đường bao quanh. Khi có cơn mưa trái sao, các con tôi cùng bọn trẻ trong hẻm ùa nhau chạy đuổi. Trái sao già hai cánh ểnh hai bên trên cái hột tròn bên dưới, từ chòm lá cây sao cao vút không ngừng rơi rụng trong gió, xoay vần như chong chóng, tạo thành điệu luân vũ đẹp mê hồn. Đứa nào may mắn hứng được trái sao, mừng như bắt được vàng, cười vang trong chiều lộng gió. Chúng nhẹ hốt từng bụm trái sao trong tay rồi tìm nơi cao nhất, nhón gót, mở bung nghiêng tay cho từng trái sao theo gió xoay bay đi.

          Nhìn những trái sao bay vần trong gió, nhớ làm sao những ngày nắng chang sau tết nguyên đán. Lúc ấy, đi dưới bóng mát hàng sao già hàng trăm tuổi ở công viên, tôi chợt nghe mùi ngai ngái của những chùm bông sao bám đầy cành nhánh phả đi. Bông sao tuy có màu vàng nhạt nhưng cũng bật nổi trên nền xanh biếc lá sao. Cơn gió nhẹ lướt qua. Từng chiếc bông sao mơ màng rơi xuống, thành lớp thảm trải nhẹ mặt đường. Bánh xe lướt nhanh. Ôi, những chiếc bông sao xinh xắn, nhỏ như đầu cọng tăm, nhanh chóng nhòe nhoẹt những niềm đau tiếc rẻ. Nhưng cái thảm bông sao trên nền xanh bãi cỏ công viên mới đẹp làm sao. Chiều xế, các con tôi và bọn trẻ trong hẻm nhẹ nhàng bước vào chốn thần tiên ấy, nhón tay vớt từng chiếc bông sao cho vào hộp giấy. Rồi, sau đó, phải nhờ bàn tay mềm mại của bọn con gái, xâu thành chuỗi, mang nơi cuờm tay, quàng qua cổ hoặc choàng quanh trán làm công chúa, hoàng tử hoặc đám cưới giả vợ chồng trong thần thoại cuộc chơi trẻ thơ.

          Giờ, bông sao đã kết thành trái, vần vũ bay xoay khắp không trung trong sắc trời đùng đục âm u. Tôi buồn buồn nhớ tới chốn quê hương những ngày tuổi nhỏ cách nay trên nửa thế kỷ. Trong không gian ảm đạm như vầy, không mấy chốc, mưa sẽ trút  xuống. Những cơn mưa đầu mùa nhỏ lắc rắc lối đi. Hơi đất nồng hực khó thở ngùn ngụt bốc lên thành luồng như đám mưa ngược. Mùa săn bắt bọ rầy đã tới. Những con đuông đất mọc cánh cứng, giống bọ hung, lớn cỡ ngón chân cái, vạch đất chun lên, đeo bám tàng cây cao. Chiều mát, bọn nhỏ chúng tôi rủ nhau rời thị trấn lội bộ tới đầu con giồng cát mát rượi bóng tre xanh rào rạt tiếng gió ru. Chúng tôi, đứa lượm phân trâu bò khô, đứa tìm rơm rạ chất đống, bật quẹt. Ngọn lửa cháy phừng rồi ngun ngún tỏa khói xám lên trời. Trong chốc lát, hàng đàn bọ rầy quần tụ trong làn khói ấy tạo thành đám mây thấp. Từng nhát chổi, từng nhánh cây trong tay chúng tôi giơ lên, huơ đập những con vật ấy. Chúng rơi lộp độp xuống nền đất giồng khô rang. Cả bọn xúm nhau lượm từng con cho vô hộp thiếc hoặc hộp giấy có soi lỗ đã để sẵn mớ lá duối cho chúng ăn. Nhưng vui hơn hết là khi trở về nhà chúng tôi biến những con vật có cánh này thành những trò chơi đất giồng không đâu có được. Đơn giản nhất là lật hai chiếc cánh cứng con vật áp vào nhau, kề ngược gần miệng thổi, lập tức hai cánh lụa của nó đập liên hồi. Kề sát con vật vào mặt, vào người sẽ nghe hơi gió mát liên tục phả vào. Quạt-máy-tuổi-thơ-nhà-quê chúng tôi đó. Cao cấp hơn, phải nhờ bàn tay chị, bàn tay anh làm. Cắt dây kẽm từng khúc, uốn luồn qua lõi chỉ thành chiếc xe. Lại gập cánh cứng con vật gài vào chiếc xe, thổi nhẹ, cánh lụa bọ rầy đập đẩy chiếc xe tới phía trước. Còn chế máy bay vẫn bằng dây kẽm. Với sợi chỉ buộc giữa nhà, con vật đập cánh lụa khiến chiếc máy bay bay vòng quanh nhà. Thật thú vị những trò chơi chắc không đứa trẻ nào bây giờ biết được. Làm sao chúng biết mùa bông sao rơi lãng mạn, mùa  trái sao già bay ngoạn mục không trung; làm sao chúng biết mùa bọ rầy kỳ diệu với trò chơi đất giồng; làm sao chúng biết đất trời vần vũ chuyển mưa khi sang mùa để nghe mùi đất đai nồng nã xông lên sau cơn mưa nhỏ hột! Bọn chúng không biết cái thế giới thật đầy tình cảm và sinh động ngoài đời như tôi và các con tôi vì mải chìm đắm với cái thế giới ảo trong màn hình máy tính trước mặt trong căn phòng ngột ngạt gió quạt trần!

         PHÙ SA LỘC         

Monday, 6 February 2023

Tác phẩm khác của tác giả Hồn Trẻ 20

 Nhớ xưa 
tiệm nước 
PHÙ SA LỘC

       Không biết hai tiếng “tiệm nước” xuất hiện ở nước ta từ khi nào. Có lẽ chúng xuất hiện từ thế kỷ thứ 17 hoặc 18, khi những lưu dân người Hoa theo chân nhóm di thần nhà Minh là Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch đến miền Đông, miền Tây Nam bộ định cư và Mạc Cửu đến Hà Tiên (Kiên Giang) sanh sống với mưu đồ “Phản Thanh phục Minh”. Mưu sự bất thành, việc định cư tốt đẹp, họ chuyển sang phát triển kinh tế cá thể dài lâu. Trong khi người Tiều (Triều Châu, Quảng Đông) tiến sâu vào các phum, sóc có đông đồng bào Khmer cư ngụ trên các mảnh đất giồng, mở các tiệm chạp phô (tạp hóa), làm rẫy, lập chành (vựa), mua bán lúa thì những người Quảng (Quảng Đông) vốn là dân thành thị nên sanh nhai tại các thị xã hoặc thành phố lớn, buôn bán các mặt hàng thu nhiều lợi nhuận hơn. Trong kinh doanh, người Quảng hầu như chiếm đa số trong việc mở quán ăn. Có lẽ từ tiệm nước bắt đầu từ khi đó trên hầu khắp miền Nam. Bấy giờ, hai tiếng tiệm nước được gọi theo tiếng Quảng là khà thỏi (thật ra khà thỏi có nghĩa là cái bàn nhỏ uống trà) nhưng có lẽ không thuận miệng nên lâu ngày nó đã được Việt hóa một cách dân dã là “tiệm nước”.

       Tiệm nước là một căn phố dù rộng hay hẹp, được bố trí khá đơn sơ. Phía trên trước cửa tiệm treo tấm bảng hiệu hoặc bằng thiếc vẽ sơn màu hoặc đắp chữ nổi xi măng trên nền tường mặt tiền bên trên cửa nhà, cũng được sơn màu, thường là màu vàng chữ đỏ. Các bảng hiệu này có hai, hiếm khi ba chữ, chữ cuối thường là “ký” hoặc “lạc”. Cứ thấy hai chữ cuối tên tiệm này là biết ngay tiệm nước. Nhưng thật ra hai chữ “ký” hay “lạc” chẳng bao hàm ý nghĩa là tiệm nước. Theo người Tàu, chữ “ký” có nghĩa là “hiệu”, là “tiệm”. Nguồn gốc hai chữ “ký” hay “lạc” có lẽ là hồi mới khởi phát nghề này bên Trung Hoa, có một hai tiệm nước có chữ cuối như vậy làm ăn phát đạt nên người sau bắt chước đặt theo lấy hên, thành lệ?

       Ở Cần Thơ xưa, trước cửa cái, nơi hàng ba tiệm nước thường để chiếc xe hình chữ nhật, gọi là “xe mì - hủ tiếu”. Chiếc xe này ngoài việc “bắt mắt” khách qua đường còn quyến rũ họ bởi mùi thơm lan tỏa trong không gian gọi mời của thùng nước lèo nóng hổi tỏa hơi. Chiếc xe mì - hủ tiếu được thiết kế bằng gỗ với nhiều tấm kiếng gắn lồng nhiều nơi bên trên. Những tấm kiếng này được tráng thủy, vẽ nhiều màu sặc sỡ hình ảnh mỹ thuật trích từ truyện tích Trung Hoa nổi tiếng, tựu trung là những tấm gương “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, để thực khách nhìn cho vui mắt, nhưng khi thưởng thức những món ăn thức uống họ sẽ ngẫm ngợi về cách đối nhân xử thế sao cho ra một con người tử tế. Bên trong, phía trên xe, phía sau các hình cảnh ấy có các ngăn chứa thực phẩm cùng gia vị cần thiết được sắp xếp gọn gàng. Trên mặt thùng xe phủ thiếc hoặc nhôm, bên trái là thùng nước lèo đặt trên cái lò. Lò nấu nước lèo xưa kia bằng củi, rồi than, về sau bằng dầu lửa bơm hơi cho ngọn lửa cháy mạnh, kêu “khè khè”, gọi “bếp khè”. Phần còn lại của mặt bàn là cái thớt bự. Bên hông xe, phía thùng nước lèo, máng cái vá thưa màu vàng để trụng hủ tiếu, mì, cùng vá chan nước lèo.

     Các tiệm nước lớn không có xe mì – hủ tiếu, thường thiết kế quầy pha chế sâu bên trong tiệm, sau một cái cửa tò vò. Quầy là hai cái kệ xây bằng xi măng dán gạch bông nằm vuông góc. Trên mặt một quầy có một chiếc lò bên trên là nồi nước lèo. Cạnh bên bếp là khoảng trống để người tổng khậu (đầu bếp) thuận tiện trong việc pha chế món ăn. Mì, hủ tiếu, thực phẩm cùng một số gia vị được đặt gọn trong chiếc tủ kiếng bên trên kệ có phủ vải the. Trên mặt kệ có một tấm thớt lớn, dầy và một con dao rất nặng. Hai vật dụng này giúp xắt thịt “ngọt”, không bị bầm dập, để có miếng ăn ngon. Kệ còn lại dùng để pha chế cà phê với những chiếc vợt máng nơi thuận tay cùng những hộp cà phê xay, hũ đường cát trắng và mấy hộp sữa đặc có đường khui sẵn…. Khi pha cà phê, người thợ cho cà phê bột vô một cái vợt may bằng vải xe lửa trắng. Cho vợt vào trong cái siêu đất (sau này bằng chiếc bình nhôm hoặc inox) rồi từ từ chế nước sôi vào vừa đủ yêu cầu. Vừa chế nước sôi ông ta vừa dùng đũa quậy đều cho cà phê ra hết cốt. Có khách, ông ta cầm cái siêu nghiêng miệng vòi chế cà phê vô ly đúng mức “chệt đẽo” (hai vạch giữa ly), đặt lên dĩa, cho phổ ky (chạy bàn) đem ra. Cái siêu này lúc nào cũng được đặt trên nồi nước sôi để giữ nóng, không làm cà phê bị chua (gọi “cà phê kho”). Để có ly cà phê ngon là một kỹ thuật đòi hỏi người pha phải có nhiều năm kinh nghiệm. Một trong những kỹ thuật đó là pha làm sao cho vợt cà phê tròn vo, căng phồng rồi nổ cái “bụp” như trái banh xì hơi. Khi đó từ bên ngoài vợt, nơi nước cà phê từ từ len chảy, mùi cà phê ngào ngạt lan tỏa khắp không gian.

       Không gian không quá lớn, tiệm nước được trang trí đơn giản. Dọc hai bên tường là hai dãy bàn hình chữ nhật cùng những chiếc ghế đẩu. Trước kia, bàn và ghế bằng gỗ, sử dụng lâu năm, “lên nước” láng bóng. Về sau, chúng được thay thế bằng ghế sắt, sau đó là ghế nhôm. Ghế thường dùng loại xếp được để khi đóng cửa tiệm được rộng rãi. Hai vách tường treo những câu đối, tranh Tàu, tranh kiếng nhiều màu với hoa lá và chim chóc. Lại có dán bảng giới thiệu một số món ăn, thức uống cùng giá tiền để khách tiện chọn. Không gian nầy khiến thực khách có cảm tưởng đang ngồi trong quán ăn ở đất nước Trung Hoa. Vì là tiệm bán quanh năm suốt tháng, lâu năm nên tường tiệm nước luôn bị khói từ bếp củi, trấu hoặc than từ bàn pha chế phía trong bay ra bám vào, u ám.       

       Tiệm nước thường bắt đầu bán vào lúc khuya (tùy theo địa điểm kinh doanh) vì chủ yếu phục vụ điểm tâm, gọi theo tiếng Quảng là tiếm xẩm. Tiệm nào cũng có mấy người phổ ky phục vụ. Phổ ky thường ăn bận lôi thôi với quần Tiều (như quần xà lỏn nhưng ống dài chí gối), áo thun có tay, đặc biệt có chiếc khăn lau bàn vắt trên vai. Khách vào vừa an vị, phổ ky đến vừa lau bàn vừa hỏi dùng món gì. Sau khi nghe khách yêu cầu, anh ta liền hát có ca có kệ nghe rất êm tai vọng vào bên trong. Một phổ ky khác, giọng điệu y chang , chuyển bài hát này vào bàn pha chế. Người tổng khậu lặp lại đúng như vậy. Ví dụ: “Dì co hoành thánh mì thoàn dách, lượng co sủi cảo tún lục”, có nghĩa thoàn dách là bàn số 1 ở giữa, tún lục là bàn số 6 phía bên Đông. Tiệm nước có nơi có ba dãy bàn: Đông (tún), Tây (sấy) và giữa (thoàn), các số thứ tự thì dùng tiếng Quảng Đông: dách, dì, xám, xây, ựng, lục mà kêu tới. Hủ tiếu tô lớn gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh gọi tái phảnh, tức nửa tô. Những từ ngữ dùng trong tiệm nước có cái thông dụng, nhiều người Việt trước đây đi tiệm nước nhiều cũng biết. Thí dụ như dầu cháo quảy, xíu mại, hoành thánh… Ly cà phê đen nhỏ gọi xây chừng, cà phê đen lớn gọi là tài chừng. Cà phê sữa gọi xây nại, còn sữa nước sôi pha một chút cà phê gọi là xây pạc sỉu có nơi gọi pạc tẩy síu phé. 

       Là nơi bán thức ăn điểm tâm bình dân nên tiệm nước chủ yếu bán vào buổi sáng. Trên mỗi chiếc bàn, người ta đặt sẵn hũ đường, chai xì dầu, chai giấm đỏ, hũ tiêu, hũ tăm, ống đũa muỗng, dĩa đựng mấy miếng chanh, hũ ớt ngâm dấm, hũ tỏi ngâm dấm. Đặc biệt, có mấy dĩa bánh ngọt…Khi khách kêu món, ví dụ hủ tiếu thì phổ ky bưng một tô hủ tiếu ra rồi dọn tiếp dĩa bánh bao, chén nhỏ xíu mại, dĩa dầu cháo quảy. Các thứ này để khách ăn thêm, như xé dầu cháo quảy hoặc xíu mại cho vô tô hủ tiếu. Hoặc ăn dầu cháo quảy với xíu mại... Có khi khách ăn thêm một cái bánh bao cho chắc bụng. Ví bằng khách không ăn thì dọn vô. Ăn mì (một, hai hoặc ba vắt), hủ tiếu hoặc hủ tiếu mì, nếu khách có yêu cầu họ sẽ đem thêm một dĩa giá hẹ sống hoặc trụng. Khách nặn chanh hoặc xịt giấm đỏ tùy thích, xì dầu và cho ớt ngâm dấm hoặc tỏi ngâm dấm vào tô hủ tiếu. Hủ tiếu của tiệm nước là loại có cọng hơi bự bản và mềm như bánh phở, không phải loại dùng nấu hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho cọng nhỏ, hơi cứng, được làm bằng bột lọc dai dai. Vì vậy sợi hủ tiếu nầy khiến thực khách khi ăn không cảm thấy ngán. Nước lèo ngọt thanh cũng là bí quyết của mỗi tiệm.

       Mì có hai loại: mì cọng tròn và mì cọng dẹp. Các tiệm mì bán lâu năm người ta thường tự làm lấy mì sợi. Mì được làm bằng bột mì rây kỹ, loại bỏ tạp chất và bột mì đóng cục. Sau đó trộn bột mì với hột gà và nước tro Tàu theo một công thức nht định. Người thợ dùng hai bàn tay trộn thật mạnh hỗn hợp nầy, rồi nhào nặn thật mạnh cho đến khi lòng bàn tay cảm nhận bột mì đã “tới” thì trang thành tấm bột hình chữ nhựt, đúng kích cỡ yêu cầu. Họ chà nắn tấm bột vài ba lần rồi cho tấm bột lăn qua máy cán vài lần, nghĩa là làm cho tấm bột nhuyễn đều, không lợn cợn. Công đoạn nầy rất nặng nhọc nên thường được các thanh niên trai tráng đảm trách. Khi đã vừa ý, tấm bột mới được cho vào máy cán thành sợi. Sợi mì được trải đều trên mặt bàn. Người thợ dùng tay bắt đếm từng sợi đủ theo số lượng rồi vừa nắm vừa đánh võng lên uốn éo sao cho nắm sợi mì dài cuốn thành một vắt vừa nắm tay, sắp vào một ngăn hộc bàn. Các vắt mì sắp đầy hộc bàn thì được đóng lại, để mì “thở”, nghĩa là làm cho những sợi mì toát hết mùi vị nước tro Tàu. Bấy giờ sợi mì mới được đưa vào pha chế… Để bảo đảm độ ngon của tô mì, những sợi mì không tiêu thụ hết trong ngày đều bị loại bỏ.

       Hủ tiếu và mì được bán hai dạng: khô hoặc nước. Tô hủ tiếu có đủ thịt nạc miếng, nạc băm, tim, gan, phèo, phổi… cắt miếng dầy, ngoài hành lá xắt nhuyễn còn có tang xại. Tô mì cũng giống như vậy, không có tang xại nhưng có thêm miếng chả tép ăn dòn dòn rất khoái khẩu. Đặc biệt, mì khô thường được phổ ky dọn theo một dĩa nhỏ đựng hột cải. Hột cải cho vô tô mì trộn trước khi ăn hoặc dùng để chấm từng miếng thịt hoặc nội tạng heo trong tô mì khô. Hột cải tạo mùi vị đặc trưng cho tô mì. Cũng quyến rũ như vậy là những khoanh ớt sừng trâu đỏ tươi ngậm đầy dấm đường ăn chua cay ngọt dịu. Nếu bánh hủ tiếu là miếng ngon khoái khẩu thì nước lèo được coi là cái thần của tô hủ tiếu. Nồi nước lèo phải được hầm rục với thịt ống, xương tủy, mực nướng, tôm chấy mỡ, cải xái pấu giúp nồi nước thơm ngây ngất, ngọt lịm. Đã vậy còn có mùi tỏi phi thơm lừng đậm chất Nam bộ.

 

       Ăn mì hoặc hủ tiếu xong, khách có thể uống cà phê đen, cà phê sữa nóng hoặc cà phê đá, cà phê sữa đá hoặc chí ít cái tẩy (ly lớn đựng đá đập nhỏ) để chế nước trà làm trà đá,… Khi khách kêu tính tiền bằng cách gõ muỗng hoặc đũa vô thành tô, thành ly, phổ ky chỉ cần liếc qua bàn là biết khách đã dùng những món gì, tính tiền, dọn ngay muỗng, dĩa, đũa để không thể tính lầm lần nữa. Phổ ky nạp tiền nơi quầy thâu ngân đặt gần cửa cái – nơi có để các loại thuốc lá, nước ngọt, bia, rượu.

       Dù là tiệm tiếm xẩm, tiệm nước không chỉ bán vào buổi sáng mà có nơi bán suốt ngày. Trưa trưa, người ta tới uống ly cà phê đen nóng, nhấm nháp một vài cái bánh ngọt cho tỉnh người. Có khi chỉ tới nhấm nháp mấy cái bánh ngọt rồi nhẩm xà (uống trà). Có một ít mgười tới kêu một ly xây chừng chẩu (cà phê đen nhỏ thêm chút rượu) uống, không hiểu để gây thêm cảm giác lâng lâng đặc biệt của thứ nước này hay chỉ để tạm nguôi ngoai cơn ghiền rượu? Xế chiều, khách kêu một tô hủ tiếu hoặc tô mì xào giòn ăn cho ấm bụng. Nồi nước lèo có xương heo gọi là xí quách, củ lẳn (khu lẳn). Xí quách được cho vào tô mì hoặc hủ tiếu khi có khách yêu cầu, gọi là hủ tiếu xương hoặc mì xương. Nhưng thường thì nó được một số người dùng để nhâm nhi. Vừa gặm củ lẳn họ vừa nhấp từng hớp rượu đế, rượu thuốc hoặc ly bia lạnh nói chuyện nghề, chuyện đời, thêm yêu cuộc sống. Nhờ vậy mà xí quách không bao giờ ế.

       Ở thành phố Cần Thơ ngày nay tiệm nước đã ngày một vắng bóng, có lẽ lớp người Hoa trẻ không thích bận bịu với cái nghề bình dân này, họ có học và muốn khẳng định địa vị cao sang của mình trong xã hội. Dù vậy tiệm nước vẫn còn, tuy ít. Đó là những tiệm nước có tiếng tăm thời xa xưa, con cháu không muốn làm mất thương hiệu cha ông dầy công gầy dựng. Vẫn với tên hiệu cũ, nhưng cái tiệm nước của họ đã hiện đại hơn có nơi gắn máy lạnh, không còn mấy vách tường đen đúa do bếp củi, bếp than, bếp dầu lửa khè đóng khói, nhờ sử dụng bếp ga. Tiệm nước nầy bây giờ được gọi là “tiệm mì” với tên cũ của nó. Hoạt động được một thời gian, thu hút đông khách, không hiểu sao tiệm đóng cửa? Chỉ còn lại một vài tiệm có chiếc xe mì – hủ tiếu bày trước hàng ba, nhứt là không thể nào gặp lại hình ảnh người phổ ky quần đùi áo thun với chiếc khăn lau bàn vắt vai cùng giọng hát ngân nga kêu món cho khách vọng vào bàn pha chế, mới nghe đã… đói bụng. Khách tới tiệm nước bây giờ để lặng lẽ ăn uống cho mau rồi đi làm; không còn cảnh những con người nhàn nhã nhâm nhi ly cà phê đen hàng mấy tiếng đồng hồ nói chuyện xa chuyện gần với ông bạn cùng bàn; bàn nào cũng nói, rôm rả, ì xèo, nhứt là tiếng Quảng và tiếng Tiều. Vì mất cái hồn dân dã” của nó nên tiệm nước không còn là trung tâm văn hóa, trung tâm thông tin của một vùng” (Nguyễn Văn Trấn, “Chợ Đệm quê tôi”), và nó không còn là nơi “nhiều người đến không chỉ để thưởng thức cà phê, bánh bao, hủ tiếu mà còn tắm mình trong không gian, không khí quen thuộc ấm áp” (Bình Nguyên Lộc, “Hồn ma cũ”). Nó cũng đã mất ít nhiều phong vị và mùi vị xưa.                                             

        PHÙ SA LỘC
--------------

        Bài có sử dụng một số tư liệu của nhà báo Lương Minh



 

 

Saturday, 21 January 2023

Tác phẩm khác của tác giả Hồn Trẻ 20

Mùa xưa lúa cũ
PHÙ SA LỘC
 
 
 
 
       Khi ngọn gió bấc se se lạnh thổi tràn qua bờ bãi ruộng vườn đồng bằng sông Cửu Long, sao nhớ quá những mùa xưa lúa cũ. Đó là khi ta còn nhỏ, thấp chũn, lẹt đẹt đi chân không trên những bờ mẫu cao nghệu. Khi đó, ta thấy dưới thăm thẳm sâu là những ngọn lúa cao ngọn trỗ oằn những chùm bông hươm vàng cong vòng lắt lay trong gió. Ta bồi hồi nôn nao nghĩ đến tương lai gần. Đó là khi ngọn gió chướng mạnh liệt thổi ào ào làm xuyến xao cây cỏ, những ngọn lúa trỗ màu vàng sậm đong đưa chờ bàn tay gặt hái của nhà nông. Tiếng gọi nhau í ới của những người dân quê vừa no bụng nắm cơm đầu ngày, nhanh chân xuống ruộng, thoăn thoắt tay liềm tay cù nèo gặt những bó lúa đậm màu no ấm. Đâu đó, từ xa xưa, trong cổ tích có lẽ, là tiếng hát tiếng hò huê tình vang vang trong nắng sớm chiều hoe. Tiếng hát tiếng hò làm vơi bao mệt nhọc của ngày lao động cật lực nhưng cũng là sợi dây kết nối tình cảm gái trai của những thanh niên nam nữ vừa chớm xuân thì. Mùa vụ thu hoạch no nê, người nông dân túa ra thành thị mua sắm. Nào quần áo, dày giép, nồi niêu xoong chảo cùng bao thứ linh tinh khác chuẩn bị đón Tết đang từng bước gần kề. Niềm vui đó chỉ đến với người nông dân mỗi năm chỉ có một lần, bởi họ làm lúa mùa.
      Lúa mùa có độ dài sinh trưởng tới nửa năm mới cho thu hoạch, từ khi gieo trồng nhổ cấy. Lúa mùa khiến nông dân có đời sống không cao nhưng giúp ta có những bữa cơm đậm đà bổ dưỡng mà bây giờ khó tìm thấy nơi những hạt gạo ngắn ngày. Làm sao sánh được gạo lúa mùa, khi gạo lúa ngắn ngày thu hoạch sau gieo sạ chỉ trong vòng ba tháng. Chợt nhớ và ngậm ngùi câu “dục tốc bất đạt” của cổ nhân. Nhưng con người ngày càng nhiều thêm, nông sản phải lớn mau, lớn nhiều mới kịp đáp ứng nhu cầu. Và, lúa mùa có thể đã thành dĩ vãng với những huyền thoại đẹp qua các công đoạn gieo trồng cổ điển. Vậy mà một bữa ta bất chợt gặp lại “người xưa” trên cánh đồng Nguyệt Hóa (Trà Vinh) khi rong xe trên Quốc lộ 54. Đó là cảnh cặp vợ chồng người Khmer đang cần mẫn trên cánh đồng lất phất mưa của một ngày áp thấp nhiệt đới. Chị vợ vừa nhổ mạ vừa chất thành đống trên mặt nước sâm sấp của cánh đồng. Anh chồng gom thành bó vừa ôm, nắm bó ngọn mạ quất mạnh vào chân cho sạch bùn trước khi đặt lên chiếc bàn nhổ mạ bằng tre, bó thành bó. Họ làm việc cần mẫn, không biết rằng ta đang hoài nhớ những mùa lúa xưa, với những ngọn lúa mùa cao ngút đầu con trẻ, khi ta sục chân xuống bùn tìm bắt những con cua ngơ ngác huơ càng, và những chén cơm nóng hổi ngon bây giờ hiếm khi có được.
      Bây giờ hiếm khi có được là những bữa cơm ngon nấu bằng gạo lúa sóc. Đó là những hạt gạo nhỏ như cọng tăm, nấu thành cơm khô, tơi như cơm tấm, càng nhai càng nghe vị ngọt thoảng thơm mùi vị núi rừng hoang dã biên cương. Lúa sóc được đồng bào Khmer miệt Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) trồng sát chân núi nên còn gọi là “lúa ruộng trên”. Cũng như lúa mùa, lúa sóc mỗi năm chỉ canh tác một vụ nên sản lượng không nhiều. Lại trồng quanh chân núi diện tích chẳng là bao. Năng suất lúa sóc không cao còn vì không dùng phân hóa học, không dùng thuốc trừ sâu, chỉ canh tác theo phương pháp cổ truyền. Chính vì vậy gạo lúa sóc tuy hiếm nhưng quý vì là loại ngũ cốc rất sạch và nhiều bổ dưỡng.
      Gạo lúa sóc nấu cơm ở đồng bằng đã ngon. Ta đã từng lên tới đỉnh Thiên Cấm Sơn (núi Cấm, Tịnh Biên, An Giang), và đã được thưởng thức mùi vị tuyệt vời của nó. Không phải nhờ bàn tay khéo léo của những người nội trợ trên ngọn núi bốn mùa đỉnh mù mây trắng, mà bởi vì khí lạnh lan tỏa khắp nơi khiến hột cơm vốn đã khô tơi càng thêm tơi khô, vốn đã ngon ngọt càng thêm ngon ngọt và nồng ấm. Gạo lúa sóc còn làm nên món ngon trứ danh của núi rừng Tịnh Biên. Đó là bánh xèo núi Cấm. Bột làm bánh được xay từ những hột gạo sơn cước này nên khi cầm miếng bánh “quê mùa” với nhưn tép rang và măng tre mạnh tông trong tay chấm chén nước mắm giấm tỏi ớt tuềnh toàng, cắn nhai mới biết cái sự sanh thú ở đời nó thấm thía ra sao!
      Lạc vào lịch sử cây lúa nước, ta nhớ tới một loại lúa có sức sống hầu như vô tận. Đó là lúa ma, người địa phương gọi lúa trời, Trịnh Hoài Đức viết trong sách “Gia Định thành thông chí” gọi lúa là “quỷ cốc”. Hằng năm, vào khoảng tháng tư âm lịch, trời đổ mưa, lúa bắt đầu nẩy mầm. Tháng 4 dương lịch, mầm lúa nhú cao chừng năm tấc, thân cứng, lá to bản. Mùa nước nổi về, từ tháng 8 tới 12 dương lịch, lúa trỗ đòng. Nước dâng tới đâu, ngọn và hột lúa vươn cao lên khỏi mặt nước tới đó. Một tháng sau lúa chín, đặc biệt vào ban đêm. Sáng sớm, nắng lên, lúa rụng hột, chờ năm sau tới mùa tiếp tục nẩy mầm... Lúa trời là đặc sản của thiên nhiên, người xưa thu hoạch bằng cách bơi chiếc xuồng con, chính giữa căng bức màn vải. Xuồng lướt qua ruộng lúa, người ta dùng sào đập hai bên rèm cho hột lúa chín chạm vào bức màn rơi xuống khoang. Lúa thu hoạch về ngâm nước khoảng ba ngày rồi đem phơi nắng cho đuôi lúa rụng trước khi xay, giã thành gạo. Gạo lúa ma rất ngon cơm nhờ dẻo và thơm. Loại lúa sạch này ngày rất xưa mọc tràn đồng, nhờ vậy con người mới có cái ăn. Và có lẽ lúa ma là thủy tổ của những loại lúa bây giờ ta đang “được sống” với những tên gọi TN, OM, MTL, gắn liền những con số vô hồn như chất lượng hơi hơi “vô hồn” của chúng. No thì có no nhưng ngon chẳng thể sánh bằng “lúa cha lúa ông” thuở trước./.
      PHÙ SA LỘC
 
      Hình: Lúa chín cúi đầu. 
      https://nguyenxuanbinhminh.com

Saturday, 23 July 2022

Tác phẩm khác của Hồn Trẻ 20

Rau cỏ mùa mưa miền Tây

Phù Sa Lộc
 
      Đó là rau hoang dã, rau sạch thứ thiệt, phải là dân miền Tây đồng bằng sông Cửu Long chánh cống, lại ở trong đồng sâu mới biết. Một khi biết rồi, người ta sẽ không nguôi nhung nhớ nó, y như trai tơ nhớ trộm thương thầm cô thôn nữ duyên dáng một lần được cầm tay.
      Ông Trần Bá Phước, quê ở Cầu Kè (Trà Vinh) than thở: “Tôi khao khát được ăn một bữa năn xào tép rồi chết cũng đành”. Ông ca thán như vậy vì 60 năm qua, dù đã từng sống ở thành phố Trà Vinh, Sài Gòn, Cần Thơ và đã từng đi đây đi đó khá nhiều nơi nhưng ông chẳng hề nhìn thấy một cọng năn, nói chi đến việc được thưởng thức! Ông kể, năm ngoái, trong lần đi thành phố Bạc Liêu (Bạc Liêu) với người bạn bằng xe gắn máy, ngang qua khu chợ nhỏ, bất chợt nhìn thấy mấy người bán năn. Mừng như bắt được vàng, ông hối người bạn tấp ngay vào lề rồi mua ngay mấy bó không cần hỏi giá. Vậy là bữa sau, về nhà, ông chỉ dẫn vợ cách thực hiện món năn xào tép.
      Khi ăn, cả nhà đều khen ngon ngọt khiến ông nở lỗ mũi. Ông lại càng nở lỗ mũi khi vò một vài cọng năn, tước bỏ vỏ, cột chặt một đầu, thổi cho nó thẳng mình. Cháu ông khoái quá, tranh nhau chơi cái trò chơi ấu thời của ông hồi ở quê xưa.
      Ông Bùi Thế Lâm ở thành phố Bạc Liêu nghe ông Phước khoe bọc năn, cười lớn: “Năn bộp ở đây nhóc”. Rồi ông Lâm cắt nghĩa năn có hai loại: năn kim và năn bộp. Năn kim (còn gọi cỏ năn), cọng nhỏ, đầu nhọn như chông, màu xanh đậm, mọc ở vùng nước cạn nhiễm phèn vàng, có củ, là loại sếu đầu đỏ rất ưa thích. Thân năn kim cho trâu bò ăn hoặc ủ vồng dưa hấu mùa Tết rất tốt. Năn bộp cọng suôn, tròn to cỡ chiếc đũa bếp, màu nâu non, mọc vùng ruộng sâu nhiễm phèn bạc trong suốt mùa mưa. Gọi năn bộp vì nó rỗng ruột. Năn bộp có ở Bạc Liêu, Cà Mau nhưng nhiều nhất là ở Ngã Năm (Sóc Trăng). Ở huyện vùng sâu này, mùa mưa người ta bán năn bộp “đầy đồng”.
 

      Năn bộp mua về cắt phần ngọn già, phần gốc non dùng kim tây luồn tách bỏ lớp vỏ, rửa sạch trước khi pha chế thành món. Ăn năn bộp đơn giản là ăn sống. Năn bộp chấm nước cá kho hoặc thịt kho cắn thêm miếng ớt hiểm xanh đã ngon, nhưng ngon hơn khi chấm mắm kho. Với món xào, ngoài tép, người ta còn xào năn bộp với thịt nghêu hoặc thịt hến. Để món ăn thêm phần hấp dẫn, người ta phi tỏi cho thơm cánh mũi, nhưng quyến luyến chân răng là khi được xào với chút nước cốt dừa. Mùi thơm của tỏi phi, vị ngọt của năn bộp của thịt nghêu của thịt hến cùng vị béo của nước cốt dừa là kỷ niệm nhớ đời của người sành ẩm thực. Đâu đã hết, năn bộp còn dùng nấu canh cá, thịt hoặc tép. Thực đơn xào năn bộp ông Lâm kể phong phú hơn món năn bộp xào tép đơn điệu ở quê nhà khiến ông Phước mê mẩn tâm can.
      Nhưng đâu đã hết, ông Lâm còn khiến ông Phước kinh ngạc khi sai con ra chợ mua về một keo dưa năn bộp. Mở nắp, ông Phước hấp tấp nhón vài cọng dưa có màu trắng xanh đẹp cho vào miệng nhai. Những cọng dưa năn bộp mềm mát mặt lưỡi có vị chua khoái khẩu càng khiến ông đê mê các giác quan! Ông Lâm cười nói làm dưa năn bộp rất dễ. Muốn ăn liền thì trộn với giấm đường cùng một ít muối, nửa tiếng đồng hồ sau có thể dọn lên mâm.
      Nhưng muốn ngon hơn, dùng nước vo gạo pha muối đường, cho năn vô, ém
chặt bằng chiếc dĩa, đậy kín, hôm sau dưa dậy chua, ăn kèm với món nào cũng kích thích tiêu hóa.
      Chính vì vậy mà mỗi mùa mưa, ông Phước cũng cố gắng thân hành xuống Bạc Liêu một chuyến để thưởng thức hương vị ngọt ngon của tuổi ấu thời đã thành nếp trong đầu ông. Ông thầm tiếc chưa có nhà hàng nào ở các thị xã, thành phố đưa năn bộp vào thực đơn, giống như bồn bồn đã thoát khỏi chiếc áo hoang dã thành một đặc sản hút hồn khách phố thị.

      Cũng là loại cỏ như năn bộp, hẹ nước là đặc sản của thành phố Vị Thanh (Hậu Giang), xã Bình Phong Thạnh (Mộc Hóa, Long An). Đến Vị Thanh, ghé chợ sẽ bắt gặp vài ba chị bán loại “cỏ” độc đáo này. Chị Huỳnh Kim Ghết, người bán hẹ nước chia sẻ: Cứ sau vài trận mưa đầu mùa, các thửa ruộng vùng đất ngập phèn lênh láng nước. Đó là lúc những cây hẹ nước bắt đầu đâm tược. Chẳng mấy chốc, cọng hẹ đã mọc dài chừng năm sáu tấc, mặt lá rộng cỡ bề ngang một ngón tay. Loại “rong” này không chỉ mọc ở ruộng nước mà còn có mặt ở các kinh mương, đầm nước vùng đất phèn. Nơi nào nước sâu, chảy mạnh và nhiều thì lá hẹ nước có màu xanh đậm, to bản hơn, xốp hơn, giòn hơn và thơm hơn hẹ mọc ở đáy mương. Nhổ hẹ nước về, người ta cắt bỏ phần gốc, rễ, rửa sạch. Hẹ nước ăn sống như một loại rau, chấm nước cá kho, thịt kho…nhưng ngon nhất là chấm mắm kho.
      Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười – Remedica - ở xã Bình Phong Thạnh đã đưa hẹ nước vào món lẩu mắm mặn mà của mình phục vụ du khách trong mùa nước nổi. Anh Lê Bá Đại (thành phố Vĩnh Long, Vĩnh Long) khoe: “Tới đây, mình được đi xuồng ba lá trên những con kinh dài mút mắt uốn khúc theo bìa rừng, lúc lúc gặp một bầy le le, gà nước, cò ma, giang sen cất cánh bay vụt lên… Nhưng đã nhứt là ăn lẩu mắm. Lẩu mắm là sự “trở mình” của mắm kho. Ngày xưa ăn mắm kho với vài ba loại rau, nhưng thưởng thức lẩu mắm ngày nay phải ê hề rau cải. Hẹ nước hiện diện trong bữa tiệc rau cải này sẽ làm tăng thêm giá trị của món ăn được mệnh danh là “ẩm thực thời khẩn hoang”. Cảm giác ngon miệng của các loại rau, bông khác chấm mắm kho, lẩu mắm là chuyện ai cũng biết.

      Nhưng cái ngon của hẹ nước chấm mắm kho, lẩu mắm mới đặc biệt. Vì, lúc
mới ăn chẳng cảm thấy gì nhưng càng nhai càng nghe vị ngọt rất đặc trưng của nó lẫn vị mặn ngọt của món ăn, từ thân hẹ nước tiết ra, thấm dần, thấm dần vào dạ dày.
      Tới chợ Vị Thanh, ngoài chị Huỳnh Thị Ghết bán hẹ nước, mùa mưa còn bắt gặp chị Thạch Kim Phên bán đọt choại. Đọt choại là tên của một loại dây leo hoang dã, nhưng người ta thường gọi nó bằng cái tên dân giả: “đọt chại”. Chị Kim Phên cho biết đọt choại có mặt ở một số nơi trong các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Hậu Giang trong vùng bưng trũng. Choại là loại dây leo, thân bò tới đâu bám rễ tới đó, lá non xoăn tít như con cuốn chiếu cuộn mình, chính là món ngon dân dả. Choại có nhiều loại: choại đá, choại vườn, choại rừng... Choại rừng có màu xanh nhạt pha chút hồng sẫm, rất được dân Đồng Tháp Mười ưa chuộng. Ở Đồng Tháp, người ta gọi là “choại chột” hay “rau chay”.
      Cô Trương Cẩm Hoa “bày” ở thành phố Vị Thanh vô nhà hàng lớn như nhà hàng Hậu Giang sẽ được biết ngay hương vị đọt choại. Một nhà hàng ở Hậu Giang có lẩu cá ngát, cá hồi ăn với đọt choại tê mê răng lưỡi hoặc ăn với thác lác cườm (đặc sản Hậu Giang) chiên cũng thú vị. Nhưng nếu có dịp quá bộ tới Đồng Tháp, sẽ ăn được vài ba món “trứ danh” làm từ đọt choại. Đầu tiên là đọt choại nấu canh chua cá rô đồng. Vị đắng của đọt choại như bị vị ngọt cá rô đồng cùng vị chua của me “hóa giải” thành một vị tổng hợp khó tả. Anh Lê Văn Bảnh ở Gáo Giồng (Đồng Tháp) “tả oán” qua điện thoại: “Gặp lúc cá rô đồng đang “ôm trứng” thì bạn “trúng mánh” lớn.
      Trứng cá rô đồng ngon ác liệt nhờ béo bùi ngây ngất tâm thần. Người Đồng Tháp Mười còn có món ngon nhớ đời thực hiện khá “bài bản”. Đó là cháo nhộng ong nấu độn măng tươi, đọt choại và nấm rơm khiến người sành ăn cứ tấm tắc ngợi khen. Đâu đã hết, mùa nước nổi, bông điên điển nở vàng đồng. Hái bông điên điển và đọt choại rửa sạch nấu canh chua lươn là món nhậu hết ý. Mưa gió dầm dề, bạn bè túm tụm bên nhau hàn huyên tâm sự bên cái lẩu tỏa hơi nóng nghi ngút “tràn trề” hương vị quyến rũ thì còn gì bằng!
      Cũng đâu đã hết. Anh Hoàng Thế Bổn, dù là dân Quảng Nam vô đây sinh sống nhưng là người “đại ghiền” đọt choại. Vừa nuốt nước bọt anh vừa kể một lô một lốc các món ăn pha chế từ đọt choại, từ ăn sống tới ăn chín, món nào cũng “ngon nhứt xứ”. Hơn hẳn năn bộp và hẹ nước lẹt đẹt ở mâm nhà, đọt choại đã “nhanh chân” có mặt tại một siêu thị Cần Thơ, và “chễm chệ” trong thực đơn một nhà hàng ở thành phố Cần Thơ. Tới đây, bạn sẽ được thưởng thức món đọt choại đơn sơ nhất là luộc chấm cá kho quẹt. Tay đầu bếp tài hoa này mới đáng phục làm sao khi luộc đọt choại vừa mềm vừa giòn vừa mướt như có chế mỡ vào. Còn cá kho quẹt thì ăn rồi nhớ quê quá xá! Chấm đọt choại với cá kho quẹt ăn với cơm nóng thiệt tình… hao cơm!
 

      Ngoài ngon miệng, ba loại rau cỏ này còn có giá trị sinh học. Một lương y cho biết chất xơ của chúng ngoài việc giúp điều hòa bài tiết, còn giúp ức chế hoạt động của các vi sinh vật kỵ khí, thúc đẩy vi sinh vật hiếu khí (có lợi cho tiêu hóa) sinh trưởng, làm cho giảm lượng hình thành choleic trong đại tràng.
      Vì vậy nên, khi những cơn mưa đêm lất phất gây buồn, người miển Tây bắt đầu ngẩn ngơ nhớ ba loại rau dân dã trên. Năm nay được ăn rồi, muốn được thưởng thức chúng, phải “dài cổ” chờ mùa mưa năm sau!
 
PHÙ SA LỘC
------------
Chú thích hình:
1. Một điểm bán năn bộp
2. Đọt choại
3. Hẹ nước

Tuesday, 12 July 2022

Thơ của tác giả Hồn Trẻ 20

Thơ PHÙ SA LỘC

BẾN TRE, NGÀY TÔI VỀ


 
 
 
 
 
 
 
"Uống dừa thì tới Bến Tre"
Câu ca ai hát mà nghe xao lòng
Đêm nằm chín nhớ mười mong
Nôn nao như sóng Hàm Luông vỗ bờ
Đã thương thì chẳng ngại đò
Những con giồng cát uống no nắng trời
Vắt vai nỗi nhớ xa vời
Vài câu hát cũ quyện lời đâu đây
Khẽ khàng chạm một bàn tay
Uống thêm miếng nước dừa say suốt đời
Bến Tre thành một khung trời
Để thương để nhớ một thời hoa niên./.

PSa Lộc

Saturday, 11 June 2022

Tác phẩm khác của tác giả Hồn Trẻ 20

Phù Sa Lộc

Hớt tóc

      Tin ông thợ hớt tóc mà tôi là thân chủ vừa mới mất chỉ khiến tôi thương cảm. Rồi thôi, chuyện nhỏ mà. Khi tóc đến lứa, ngứa ngáy, tôi mới băn khoăn suy tính tìm một chỗ nào khác để hớt. Nghĩ tới nghĩ lui, đảo qua đảo lại mấy tiệm hớt tóc sang trọng, mấy “tiệm” vỉa hè, gần hoặc xa nhà, đều thấy ngại vì nhiều lý do. Cuối cùng, tóc dài quá lứa, ngứa không chịu được, tôi đành tấp vào cái nơi hớt tóc lề đường gần nhà. Cũng áo thun, quần cụt, ngồi dựa ngửa trên ghế “phô tơi” cho ông thợ là người em ông thợ hớt tóc đã mãn phần hớt. Ông ta hớt xong, nhìn tấm kiếng treo trước mặt, tôi thấy một người lạ hoắc. Ông thợ này cùng anh ông ấy đều được cha truyền nghề, sao tay nghề lại khác nhau quá vậy! Không nản, lần hớt tóc sau, tôi vẫn đến ông thợ đó. Và, sau một hồi chỉ dẫn của tôi, ông ta sửa bên này một chút bên kia một ít, rốt cuộc tôi có mái tóc còn cao hơn lần trước. Vô cơ quan ai cũng cười. Vậy là bỏ ông ta. Vô phòng hớt tóc máy lạnh, mái tóc vẫn không như ý và quen mắt bạn bè đồng sở...

      Bấy giờ tôi mới thấm thía cái sự chết đi của ông thợ hớt tóc của mình không phải chuyện nhỏ. Hồi đó, chỉ cần thả đến chỗ ông ta, nếu không có khách thì thảnh thơi ngồi vào ghế, còn có khách thì hỏi chừng bao nhiêu phút sẽ trở ra thì vừa. Yên lòng ngồi vào ghế cho ông ta “vò đầu xoa mặt” theo trình tự hớt, sau đó tôi khoan khoái về nhà với mái tóc trăm lần như một. Giống như xưa kia ba ông ta đã từng hớt cho tôi dù đường dao không ngọt bằng cha ông khi cạo mặt, cổ và gáy tôi. Hồi đó, ba ông ta chiếm cứ một góc cây sao của khu công viên gần nhà tôi. Ngồi cho ông hớt tóc, tôi thả mắt ngắm nhìn những bông sao đầu mùa rơi lả tả khắp không trung. Nhưng đã nhất là những tháng đầu mùa mưa, những cơn gió quằn quại thổi khiến đám trái sao già bay chấp chới khắp muôn nơi. Cảnh tượng đẹp vô cùng. Và, trong khung cảnh lãng mạn ấy, tôi chợt nhớ đến cái ngày xưa, thật xa, khi tôi còn nhỏ.

      Ngày đó, ở thị trấn quê tôi có một ông thợ hớt tóc già ở tuốt xóm sâu, cứ cả nhà tôi tới cữ hớt tóc là ông lững thững xách cái thùng thiếc nhỏ đựng đồ nghề tới. Ba tôi nhanh nhẹn bắc chiếc ghế đẩu sân nhà rồi ngồi lên hớt trước. Sau đó tới hai anh tôi, sau cùng mới tới tôi. Đám tóc vụn vun đống dưới chân ghế, ba tôi cẩn thận hốt bỏ rồi dặn má tôi sáng mai đi chợ mua huyết heo xào giá hẹ ăn xổ “độc” - những sợi tóc vô tình “lạc” vô bụng.

      Thị trấn quê tôi có vài tiệm hớt tóc. Nhưng cái tiệm ở ngã tư thị trấn mới hấp dẫn. Trưa trưa tôi ưa cùng mấy đứa bạn tới đó ngồi nghe ông thợ hớt tóc lửng tửng mấy tiếng đờn ghi ta phím lõm buồn còn hơn ngọn nắng hè oi ả. Cũng có lúc cao hứng, ông cùng số bạn của mình, kẻ đờn kìm, người đờn gáo, ai đó thủ cây vĩ cầm, cùng réo rắt những điệu buồn âm vực cổ nhạc trong tiếng mưa rơi gió hú não nùng, thỉnh thoảng ngân vang tiếng song lan giòn khướu. Rồi, trong những tiếng đờn đắm mê ấy, có ai đó cất cao giọng hát một bài vọng cổ ba mươi hai câu. Mùi rệu. Tiệm hớt tóc này hấp dẫn tôi đâu chỉ có vậy, vì còn một chuyện nữa mà tôi ưa thích tới ngồi. Đó là những câu chuyện xảy ra ở loanh quanh thị trấn, xa nhất là ở các tỉnh khác, do ông thợ kể lại. Toàn những chuyện mới lạ ở những nơi mà bước chân bé nhỏ của tôi chưa hề đặt tới. Tôi thầm phục cái ông hớt tóc này tài làm sao khi ở một chỗ mà biết bao chuyện trên trời dưới đất. Có thể nói ông là một cái đài, nhanh hơn báo ngày, có khi còn hơn “báo giờ” điện tử ngày nay. Lại còn một chuyện “lạ” nữa là cái bảng hiệu tiệm hết sức kỳ cục: HỚTÓC. Không đúng chánh tả, nhưng ai cũng đọc được là HỚT TÓC!

     Hớt tóc hồi đó, hơn nửa thế kỷ trước, có chừng năm bảy kiểu: trọc, bảy ba, ổ gà, đầu tém… Lại còn uốn, ép, sấy, gội, nhuộm, cho thêm phần đa dạng. Hớt rồi, tắm chải xong xuôi, người ta o bế cái đầu bằng cách xức brilliantine cho láng mượt “con ruồi đậu phải chống gậy”. Cả chục năm nay, bên cạnh những kiểu truyền thống như cao, thấp, hớt tóc còn có những kiểu “thời thượng” “không gống ai”, ví như cái đầu trọc lóc phần ót chỉ chừa chỏm tóc trên mỏ ác, lại còn nhuộm xanh nhuộm xanh dỏ tím vàng… cho thêm phần “hiện đại” (?). Sự “cầu kỳ” nầy dễ thấy ở những người trẻ, nhứt là ở khá nhiều cầu thủ bóng đá. Để làm đẹp, còn có gel xức tóc đen mượt, hấp dẫn mắt nhìn. Trước kia còn có “hớt tóc thanh nữ”, phục vụ các đấng nam nhi “tới bến”. Cạo mặt hoặc lấy ráy tai bên trái thì cô gái phục vụ đứng bên phải, kê bầu ngực ú nu vào sát mặt khách… Thiệt là “sướng… tạo”!

      Ông bà ta từng nói “cái răng cái tóc là gốc con người”. Cho nên người ta vô tiệm hớt tóc để o bế cái đầu theo ý mình, là làm đẹp, giữ cái “gốc”. Cái gốc ấy được chăm chút ở những barber shop, nơi có máy lạnh chạy êm ru. Nhưng đã mất đi nét văn hóa ở những tiệm hớt tóc xưa. Đó là chẳng thể nào thấy mấy cây đờn cổ nhạc treo trên vách để có dịp nghe giọng ca mùi mẫn và tiếng đờn buồn não ruột của những “nghệ sĩ chân đất”. Rất may là các ông thợ hớt tóc vẫn là “cái đài” “phát” đủ thứ chuyện “trên trời dưới đất” mà họ thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau kể cho khách nghe… giải trí./.                              

      PHÙ SA LỘC