PHÙ SA LỘC Không biết hai tiếng “tiệm nước” xuất
hiện ở nước ta từ khi nào. Có lẽ chúng xuất hiện từ thế kỷ thứ 17 hoặc 18, khi
những lưu dân người Hoa theo chân nhóm
di thần nhà Minh là Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch đến miền Đông, miền Tây Nam bộ định cư và Mạc Cửu đến Hà
Tiên (Kiên Giang) sanh sống với mưu đồ “Phản Thanh phục Minh”. Mưu sự bất
thành, việc định cư tốt đẹp, họ chuyển sang phát triển kinh tế cá thể dài lâu.
Trong khi người Tiều (Triều Châu, Quảng Đông) tiến sâu vào các phum, sóc có
đông đồng bào Khmer cư ngụ trên các mảnh đất giồng, mở các tiệm chạp phô (tạp hóa), làm rẫy, lập chành (vựa), mua bán lúa thì những người
Quảng (Quảng Đông) vốn là dân thành thị nên sanh nhai tại các thị xã hoặc thành
phố lớn, buôn bán các mặt hàng thu nhiều lợi nhuận hơn. Trong kinh doanh, người
Quảng hầu như chiếm đa số trong việc mở quán ăn. Có lẽ từ tiệm nước bắt đầu từ
khi đó trên hầu khắp miền Nam. Bấy giờ, hai tiếng tiệm nước được gọi theo tiếng
Quảng là khà thỏi (thật ra khà thỏi có nghĩa là cái bàn nhỏ uống
trà) nhưng có lẽ không thuận miệng nên lâu ngày nó đã được Việt hóa một cách
dân dã là “tiệm nước”.
Tiệm nước là một căn phố dù rộng hay
hẹp, được bố trí khá đơn sơ. Phía trên trước cửa tiệm treo tấm bảng hiệu hoặc
bằng thiếc vẽ sơn màu hoặc đắp chữ nổi xi măng trên nền tường mặt tiền bên trên
cửa nhà, cũng được sơn màu, thường là màu vàng chữ đỏ. Các bảng hiệu này có
hai, hiếm khi ba chữ, chữ cuối thường là “ký” hoặc “lạc”. Cứ thấy hai chữ cuối
tên tiệm này là biết ngay tiệm nước. Nhưng thật ra hai chữ “ký” hay “lạc” chẳng
bao hàm ý nghĩa là tiệm nước. Theo người Tàu, chữ “ký” có nghĩa là “hiệu”, là
“tiệm”. Nguồn gốc hai chữ “ký” hay “lạc” có lẽ là hồi mới khởi phát nghề này
bên Trung Hoa, có một hai tiệm nước có chữ cuối như vậy làm ăn phát đạt nên
người sau bắt chước đặt theo lấy hên, thành lệ?
Ở Cần Thơ xưa, trước cửa cái, nơi hàng
ba tiệm nước thường để chiếc xe hình chữ nhật, gọi là “xe mì - hủ tiếu”. Chiếc
xe này ngoài việc “bắt mắt” khách qua đường còn quyến rũ họ bởi mùi thơm lan
tỏa trong không gian gọi mời của thùng nước lèo nóng hổi tỏa hơi. Chiếc xe mì -
hủ tiếu được thiết kế bằng gỗ với nhiều tấm kiếng gắn lồng nhiều nơi bên trên.
Những tấm kiếng này được tráng thủy, vẽ nhiều màu sặc sỡ hình ảnh mỹ thuật
trích từ truyện tích Trung Hoa nổi tiếng, tựu trung là những tấm gương “trung,
hiếu, tiết, nghĩa”, để thực khách nhìn cho vui mắt, nhưng khi thưởng thức những
món ăn thức uống họ sẽ ngẫm ngợi về cách đối nhân xử thế sao cho ra một con
người tử tế. Bên trong, phía trên xe, phía sau các hình cảnh ấy có các ngăn
chứa thực phẩm cùng gia vị cần thiết được sắp xếp gọn gàng. Trên mặt thùng xe
phủ thiếc hoặc nhôm, bên trái là thùng nước lèo đặt trên cái lò. Lò nấu nước
lèo xưa kia bằng củi, rồi than, về sau bằng dầu lửa bơm hơi cho ngọn lửa cháy
mạnh, kêu “khè khè”, gọi “bếp khè”. Phần còn lại của mặt bàn là cái thớt bự.
Bên hông xe, phía thùng nước lèo, máng cái vá thưa màu vàng để trụng hủ tiếu,
mì, cùng vá chan nước lèo.
Các tiệm nước lớn không có xe mì – hủ tiếu,
thường thiết kế quầy pha chế sâu bên trong tiệm, sau một cái cửa tò vò. Quầy là
hai cái kệ xây bằng xi măng dán gạch bông nằm vuông góc. Trên mặt một quầy có
một chiếc lò bên trên là nồi nước lèo. Cạnh bên bếp là khoảng trống để người tổng khậu (đầu bếp) thuận tiện trong
việc pha chế món ăn. Mì, hủ tiếu, thực phẩm cùng một số gia vị được đặt gọn trong
chiếc tủ kiếng bên trên kệ có phủ vải the. Trên mặt kệ có một tấm thớt lớn, dầy
và một con dao rất nặng. Hai vật dụng này giúp xắt thịt “ngọt”, không bị bầm dập,
để có miếng ăn ngon. Kệ còn lại dùng để pha chế cà phê với những chiếc vợt máng
nơi thuận tay cùng những hộp cà phê xay, hũ đường cát trắng và mấy hộp sữa đặc
có đường khui sẵn…. Khi pha cà phê, người thợ cho cà phê bột vô một cái vợt may bằng vải xe lửa trắng. Cho vợt vào
trong cái siêu đất (sau này bằng chiếc bình nhôm hoặc inox) rồi từ từ chế nước
sôi vào vừa đủ yêu cầu. Vừa chế nước sôi ông ta vừa dùng đũa quậy đều cho cà
phê ra hết cốt. Có khách, ông ta cầm cái siêu nghiêng miệng vòi chế cà phê vô ly đúng mức “chệt
đẽo” (hai vạch giữa ly), đặt lên dĩa, cho phổ ky (chạy bàn) đem ra. Cái siêu này lúc nào cũng được đặt trên
nồi nước sôi để giữ nóng, không làm cà phê bị chua (gọi “cà phê kho”). Để có ly cà phê ngon là một
kỹ thuật đòi hỏi người pha phải có nhiều năm kinh nghiệm. Một trong những kỹ
thuật đó là pha làm sao cho vợt cà phê tròn vo, căng phồng rồi nổ cái “bụp” như
trái banh xì hơi. Khi đó từ bên ngoài vợt, nơi nước cà phê từ từ len chảy, mùi
cà phê ngào ngạt lan tỏa khắp không gian.
Không gian không quá lớn, tiệm nước được
trang trí đơn giản. Dọc hai bên tường là hai dãy bàn hình chữ nhật cùng những
chiếc ghế đẩu. Trước kia, bàn và ghế bằng gỗ, sử dụng lâu năm, “lên nước” láng
bóng. Về sau, chúng được thay thế bằng ghế sắt, sau đó là ghế nhôm. Ghế thường
dùng loại xếp được để khi đóng cửa tiệm được rộng rãi. Hai vách tường treo
những câu đối, tranh Tàu, tranh kiếng nhiều màu với hoa lá và chim chóc. Lại có
dán bảng giới thiệu một số món ăn, thức uống cùng giá tiền để khách tiện chọn.
Không gian nầy khiến thực khách có cảm tưởng đang ngồi trong quán ăn ở đất nước
Trung Hoa. Vì là tiệm bán quanh năm suốt tháng, lâu năm nên tường tiệm nước
luôn bị khói từ bếp củi, trấu hoặc than từ bàn pha chế phía trong bay ra bám
vào, u ám.
Tiệm nước thường bắt đầu bán vào lúc khuya
(tùy theo địa điểm kinh doanh) vì chủ yếu phục vụ điểm tâm, gọi theo tiếng
Quảng là tiếm xẩm. Tiệm nào cũng có
mấy người phổ ky phục vụ. Phổ ky thường ăn bận lôi thôi với quần
Tiều (như quần xà lỏn nhưng ống dài chí gối), áo thun có tay, đặc biệt có chiếc
khăn lau bàn vắt trên vai. Khách vào vừa an vị, phổ ky đến vừa lau bàn vừa hỏi dùng món gì. Sau khi nghe khách yêu
cầu, anh ta liền hát có ca có kệ nghe rất êm tai vọng vào bên trong. Một phổ ky khác, giọng điệu y chang , chuyển
bài hát này vào bàn pha chế. Người tổng
khậu lặp lại đúng như vậy. Ví dụ: “Dì
co hoành thánh mì thoàn dách, lượng co sủi cảo tún lục”, có nghĩa thoàn dách là bàn số 1 ở giữa, tún lục là bàn số 6 phía bên Đông. Tiệm
nước có nơi có ba dãy bàn: Đông (tún),
Tây (sấy) và giữa (thoàn), các số thứ tự thì dùng tiếng
Quảng Đông: dách, dì, xám, xây, ựng, lục
mà kêu tới. Hủ tiếu tô lớn gọi tố phảnh,
tô nhỏ ít bánh gọi tái phảnh, tức nửa
tô. Những từ ngữ dùng trong tiệm nước có cái thông dụng, nhiều người Việt trước
đây đi tiệm nước nhiều cũng biết. Thí dụ như dầu cháo quảy, xíu mại, hoành thánh… Ly cà phê đen nhỏ gọi xây chừng, cà phê đen lớn gọi là tài chừng. Cà phê sữa gọi xây nại, còn sữa nước sôi pha một chút
cà phê gọi là xây pạc sỉu có nơi gọi pạc tẩy síu phé.
Là nơi bán thức ăn điểm tâm bình dân nên
tiệm nước chủ yếu bán vào buổi sáng. Trên mỗi chiếc bàn, người ta đặt sẵn hũ
đường, chai xì dầu, chai giấm đỏ, hũ tiêu, hũ tăm, ống đũa muỗng, dĩa đựng mấy
miếng chanh, hũ ớt ngâm dấm, hũ tỏi ngâm dấm. Đặc biệt, có mấy dĩa bánh ngọt…Khi
khách kêu món, ví dụ hủ tiếu thì phổ ky
bưng một tô hủ tiếu ra rồi dọn tiếp dĩa bánh bao, chén nhỏ xíu mại, dĩa dầu cháo quảy. Các
thứ này để khách ăn thêm, như xé dầu cháo
quảy hoặc xíu mại cho vô tô hủ
tiếu. Hoặc ăn dầu cháo quảy với xíu mại... Có khi khách ăn thêm một cái
bánh bao cho chắc bụng. Ví bằng khách không ăn thì dọn vô. Ăn mì (một, hai hoặc
ba vắt), hủ tiếu hoặc hủ tiếu mì,
nếu khách có yêu cầu họ sẽ đem thêm một dĩa giá hẹ sống hoặc trụng. Khách nặn
chanh hoặc xịt giấm đỏ tùy thích, xì dầu và cho ớt ngâm dấm hoặc tỏi ngâm dấm vào tô hủ tiếu.
Hủ tiếu của tiệm nước là loại có cọng hơi bự bản và mềm như bánh phở, không
phải loại dùng nấu hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho cọng nhỏ, hơi cứng, được
làm bằng bột lọc dai dai. Vì vậy sợi hủ tiếu nầy khiến thực khách khi ăn không
cảm thấy ngán. Nước lèo ngọt thanh cũng là bí quyết của mỗi tiệm.
Mì có hai loại: mì cọng tròn và mì cọng
dẹp. Các tiệm mì bán lâu năm người ta thường tự làm lấy mì sợi. Mì được làm
bằng bột mì rây kỹ, loại bỏ tạp chất và bột mì đóng cục. Sau đó trộn bột mì với
hột gà và nước tro Tàu theo một công thức nhứt định. Người thợ dùng hai bàn tay trộn thật mạnh hỗn hợp nầy, rồi nhào
nặn thật mạnh cho đến khi lòng bàn tay cảm nhận bột mì đã “tới” thì trang thành
tấm bột hình chữ nhựt, đúng kích cỡ yêu cầu. Họ chà nắn tấm bột vài ba lần rồi
cho tấm bột lăn qua máy cán vài lần, nghĩa là làm cho tấm bột nhuyễn đều, không
lợn cợn. Công đoạn nầy rất nặng nhọc nên thường được các thanh niên trai tráng
đảm trách. Khi đã vừa ý, tấm bột mới được cho vào máy cán thành sợi. Sợi mì
được trải đều trên mặt bàn. Người thợ dùng tay bắt đếm từng sợi đủ theo số
lượng rồi vừa nắm vừa đánh võng lên uốn éo sao cho nắm sợi mì dài cuốn thành
một vắt vừa nắm tay, sắp vào một ngăn hộc bàn. Các vắt mì sắp đầy hộc bàn thì
được đóng lại, để mì “thở”, nghĩa là làm cho những sợi mì toát hết mùi vị nước
tro Tàu. Bấy giờ sợi mì mới được đưa vào pha chế… Để bảo đảm độ ngon của tô mì,
những sợi mì không tiêu thụ hết trong ngày đều bị loại bỏ.
Hủ tiếu và mì được bán hai dạng: khô
hoặc nước. Tô hủ tiếu có đủ thịt nạc miếng, nạc băm, tim, gan, phèo, phổi… cắt
miếng dầy, ngoài hành lá xắt nhuyễn còn có tang
xại. Tô mì cũng giống như vậy, không có tang xại nhưng có thêm miếng chả tép ăn dòn dòn rất khoái
khẩu. Đặc biệt, mì khô thường được phổ ky
dọn theo một dĩa nhỏ đựng hột cải. Hột cải cho vô tô mì trộn trước khi ăn hoặc
dùng để chấm từng miếng thịt hoặc nội tạng heo trong tô mì khô. Hột cải tạo mùi
vị đặc trưng cho tô mì. Cũng quyến rũ như vậy là những khoanh ớt sừng trâu đỏ
tươi ngậm đầy dấm đường ăn chua cay ngọt dịu. Nếu bánh hủ tiếu là miếng ngon
khoái khẩu thì nước lèo được coi là cái thần của tô hủ tiếu. Nồi nước lèo phải
được hầm rục với thịt ống, xương tủy, mực nướng, tôm chấy mỡ, cải xái pấu giúp nồi nước thơm ngây ngất,
ngọt lịm. Đã vậy còn có mùi tỏi phi thơm lừng đậm chất Nam bộ.
Ăn mì hoặc hủ tiếu xong, khách có thể
uống cà phê đen, cà phê sữa nóng hoặc cà phê đá, cà phê sữa đá hoặc chí ít cái tẩy (ly lớn đựng đá đập nhỏ) để chế nước trà làm trà đá,… Khi khách kêu tính
tiền bằng cách gõ muỗng hoặc đũa vô thành tô, thành
ly, phổ ky chỉ cần liếc qua bàn
là biết khách đã dùng những món gì, tính tiền, dọn ngay muỗng,
dĩa, đũa để không thể tính lầm lần nữa. Phổ
ky nạp tiền nơi quầy thâu ngân đặt gần cửa cái – nơi có để các loại thuốc
lá, nước ngọt, bia, rượu.
Dù
là tiệm tiếm xẩm, tiệm nước không chỉ
bán vào buổi sáng mà có nơi bán suốt ngày. Trưa trưa, người ta tới uống ly cà
phê đen nóng, nhấm nháp một vài cái bánh ngọt cho tỉnh người. Có khi chỉ tới
nhấm nháp mấy cái bánh ngọt rồi nhẩm xà
(uống trà). Có một ít mgười tới kêu một ly xây
chừng chẩu (cà phê đen nhỏ thêm chút rượu) uống, không hiểu để gây thêm cảm giác lâng lâng đặc biệt của thứ
nước này hay chỉ để tạm nguôi ngoai cơn ghiền rượu? Xế chiều, khách kêu một tô
hủ tiếu hoặc tô mì xào giòn ăn cho ấm bụng. Nồi nước lèo có xương heo gọi là xí quách, củ lẳn (khu lẳn). Xí quách được cho vào tô mì hoặc hủ tiếu
khi có khách yêu cầu, gọi là hủ tiếu xương hoặc mì xương. Nhưng thường thì nó
được một số người dùng để nhâm nhi. Vừa gặm củ
lẳn họ vừa nhấp từng hớp rượu đế, rượu thuốc hoặc ly bia lạnh nói chuyện
nghề, chuyện đời, thêm yêu cuộc sống. Nhờ vậy mà xí quách không bao giờ ế.
Ở thành
phố Cần Thơ ngày nay tiệm nước đã ngày một vắng bóng, có lẽ lớp người Hoa trẻ
không thích bận bịu với cái nghề bình dân này, họ có học và muốn khẳng định địa
vị cao sang của mình trong xã hội. Dù vậy tiệm nước vẫn còn, tuy ít. Đó là
những tiệm nước có tiếng tăm thời xa xưa, con cháu không muốn làm mất thương
hiệu cha ông dầy công gầy dựng. Vẫn với tên hiệu cũ, nhưng cái tiệm nước của họ
đã hiện đại hơn có nơi gắn
máy lạnh, không còn mấy vách tường đen đúa do bếp củi, bếp than, bếp dầu lửa
khè đóng khói, nhờ sử dụng bếp ga. Tiệm nước nầy bây giờ được gọi là “tiệm mì” với tên
cũ của nó. Hoạt động được một thời gian, thu hút đông khách, không hiểu sao
tiệm đóng cửa? Chỉ còn lại một vài tiệm có chiếc xe mì – hủ tiếu bày trước hàng
ba, nhứt là không thể nào gặp lại hình ảnh người phổ ky quần đùi áo thun với chiếc khăn lau bàn vắt vai cùng giọng
hát ngân nga kêu món cho khách vọng vào bàn pha chế, mới nghe đã… đói bụng.
Khách tới tiệm nước bây giờ để lặng lẽ ăn uống cho mau rồi đi làm; không còn
cảnh những con người nhàn nhã nhâm nhi ly cà phê đen hàng mấy tiếng đồng hồ nói
chuyện xa chuyện gần với ông bạn cùng bàn; bàn nào cũng nói, rôm rả, ì xèo,
nhứt là tiếng Quảng và tiếng Tiều. Vì “mất cái hồn dân dã” của nó nên tiệm
nước không còn là “trung tâm văn hóa, trung tâm thông
tin của một vùng” (Nguyễn Văn Trấn, “Chợ Đệm quê tôi”), và nó không còn là
nơi “nhiều người đến không chỉ để thưởng
thức cà phê, bánh bao, hủ tiếu mà còn tắm mình trong không gian, không khí quen thuộc ấm áp” (Bình Nguyên Lộc, “Hồn ma cũ”). Nó cũng đã mất ít nhiều phong vị và mùi
vị xưa.
PHÙ SA LỘC
--------------
Bài có sử dụng một số tư liệu của nhà báo Lương Minh