Showing posts with label Nguyễn Tuấn Khanh. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Tuấn Khanh. Show all posts

Tuesday, 12 July 2022

Hồn Trẻ 20 và bạn hữu

Nguyễn Tuấn Khanh

Giải mã người đầu tiên thành lập "Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế"

LTS: Trên chuyên mục Câu chuyện Văn hoá của Người Đô Thị online ngày 5.10.2019 có bài viết "Người bí ẩn đã lập nên 'Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế' là ai?" và ngày 2.12.2020 tiếp tục có bài viết "Nói thêm về người lập nên ‘Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế’" của tác giả Lê Đại Anh Kiệt. Các bài viết ghi chép và cung cấp thông tin nhằm góp thêm câu chuyện ai là người đã lập nên Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế.

Sở dĩ có cách tiếp cận như vậy, vì được thành lập từ năm 1948 và hoạt động liên tục từ đó đến nay, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của sân khấu cũng như việc đoàn kết giúp đỡ, chăm sóc giới văn nghệ sĩ... tuy nhiên việc ai là người thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế lại là một bí ẩn.

Nhận thấy đây là vấn đề lịch sử văn hóa khá quan trọng, tác giả các bài viết đã muốn có thời gian đào sâu, tìm thông tin tư liệu làm rõ vấn đề có bài viết đầy đủ hơn. Rất tiếc, vào thời điểm đó (năm 2020) soạn giả Nguyễn Phương đã tạ thế, Nhạc sư Vĩnh Bảo đang lâm trọng bệnh. Bằng sự cầu thị, trước khi kết thúc bài báo, tác giả mong rằng từ thông tin bài viết, cộng đồng yêu thích cải lương sẽ quan tâm góp thêm thông tin làm rõ câu chuyện...

Hơn một năm rưỡi sau ngày bài báo Nói thêm về người lập nên ‘Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế’ được công bố, mới đây tác giả Nguyễn Tuấn Khanh (nhà nghiên cứu, tác giả của cuốn Bước đường của cải lương) đã gửi tới Người Đô Thị bài viết liên quan đến câu chuyện ai là người đã lập nên Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế với những thông tin, tư liệu hoàn toàn mới. Để rộng đường dư luận, Người Đô Thị công bố bài viết này, đồng thời rất mong tiếp tục nhận được phản hồi từ bạn đọc, đặc biệt là những thông tin, tư liệu mới liên quan đến vấn đề đang bàn, để làm phong phú hơn câu chuyện lịch sử, văn hoá về tổ chức đặc biệt này.

Dưới đây, Người Đô Thị trân trọng giới thiệu tới bạn đọc bài viết của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh.

Ngôi nhà số 133 Cô Bắc (TP.HCM) xưa nay vốn được xem như nhà thờ tổ của sân khấu cải lương. Ảnh: Bùi Minh Thu


Trên trang Người Đô Thị ngày thứ bảy (5.10.2019) có đăng bài Người bí ẩn đã lập nên ‘Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế’ là ai? của nhà báo Lê Đại Anh Kiệt đã đưa ra một chi tiết mới là Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế do ông Nguyễn Văn Phát, anh ruột của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (từ trần ngày 7.1.2021) là người sáng lập và kiêm luôn chức Hội trưởng. 

Nhà báo Lê Đại Anh Kiệt đã dựa trên những chứng cứ của gia đình nhạc sư Vĩnh Bảo cung cấp gồm thẻ Hội viên hành sự của nghệ sĩ hát bội Nguyễn Thị Út của đoàn Bầu Thắng do ông hội trưởng Nguyễn Văn Phát ký năm 1950 và 2 bản Cấp Bằng Hào Tâm do Chánh hội trưởng Nguyễn Văn Phát ký ngày 19.11.1949 và 23.9.1950.

Với những bằng chứng trên, nhạc sư Vĩnh Bảo đã viết một lá thư đề ngày 29.9.2019 khẳng định: "Anh trai tôi Nguyễn-văn-Phát là bạn chí thân của ông Arondelle Đô Trưởng thành phố Sài gòn-Chợ lớn (Préfet de la Région Saigon-Cholon) nên khoảng năm 1948 đứng ra xin mảnh đất số 133 đường Cô Bắc (Mon Seigneur Dumortier) để lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế. Ông Võ-đình-Ban (sui gia của ông Nguyễn-văn-Lượng Nhà thuốc [N]hành Mai) là mạnh thường quân bỏ tiền ra xây cất nhà Hội. Như vậy anh hai tôi Nguyễn-văn-Phát là người sáng lập Hội Nghệ sĩ ái hữu và kiêm luôn chức Hội trưởng, Tổng Thơ ký là nghệ sĩ Nguyễn-thành-Châu thời bấy giờ”.

Bức thư có chữ ký của nhạc sư Vĩnh Bảo (Nguồn: Người Đô Thị) [i] 


Hội Nghệ sĩ ái hữu được thành lập từ năm 1948 và từ đó cho tới bây giờ, mọi người đều biết là hội do các nghệ sĩ tiền phong như Trần Hữu Trang, Nguyễn Thành Châu, Bảy Nam, Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Tư Chơi... sáng lập và kinh phí để xây căn nhà số 133 đường Cô Bắc mà sau này được gọi nôm na là “Nhà thờ Tổ sân khấu” là do từ các buổi hát gây quỹ cùng với tiền nguyệt liễm của hội viên và mạnh thường quân đóng góp như đạo diễn Nguyễn Hồng Dung (con gái của cố NSND Năm Châu) đã giải thích trong bài An vị bàn thờ Tổ sân khấu tại ngôi nhà sau tu sửa hơn 800 triệu đồng của Thanh Hiệp trên báo Người Lao Động ngày 29.12.2017: “Ngôi nhà 133 Cô Bắc này có được là nhờ vào tích lũy từ các đợt hát gây quỹ vận động mạnh thường quân đóng góp, thu tiền nguyệt phí của hội viên và để làm trụ sở hoạt động công khai hợp pháp cho các cơ sở cách mạng hoạt động tại nội thành”.

Nay với chi tiết mới của nhạc sư Vĩnh Bảo đưa ra nhưng những người trong cuộc đều đã ra người thiên cổ nên khó kiểm chứng. Thời may, chúng tôi liên lạc được với soạn giả Nguyễn Phương ở Canada, lúc đó ông đã 98 tuổi, kém nhạc sư Vĩnh Bảo 4 tuổi và đã hoạt động trong ngành nghệ thuật sân khấu từ năm 1948 để hỏi về sự kiện này.

Ngày 26.10.2019 soạn giả Nguyễn Phương đã viết bài Ai là Hội Trưởng đầu tiên của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế Saigon? để gởi đăng trên Thời Báo ở Canada và trên trang mạng www.namkyluctinh.org. Soạn giả Nguyễn Phương cho biết là lúc đó soạn giả Trần Hữu Trang được liên lạc viên của cách mạng đưa vào chiến khu 8 họp và được gợi ý thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế để các nghệ sĩ giúp đỡ lẫn nhau. Khi trở về Trần Hữu Trang tới gặp nghệ sĩ Thanh Cao để cám ơn đã giới thiệu người đưa ông vô chiến khu 8 và đã thuật lại việc này với sự có mặt của soạn giả Nguyễn Phương.

Cũng theo soạn giả Nguyễn Phương: “Đây là thời kỳ có chiến tranh Việt Pháp. Pháp không bao giờ cho người không được Pháp tin tưởng lập hội. Các vụ tụ tập đông người trong việc quan, hôn, tang, tế đều phải xin phép, được ông Cò sở tại cấp giấy phép thì mới được tổ chức” nên họ đã kiếm một người công chức được nhà cầm quyền Pháp tin tưởng để đứng đơn xin lập Hội Nghệ sĩ ái hữu và ông Nguyễn Văn Phát được mời làm hội trưởng.

Sau bài báo của soạn giả Nguyễn Phương, ngày 2.12.2020 nhà báo Lê Đại Anh Kiệt viết tiếp bài Nói thêm về người lập nên ‘Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế’ được đăng trên Người Đô Thị nêu lên nghi vấn của nhạc sư Vĩnh Bảo:

Một số điểm còn tồn nghi theo tinh thần bài viết của soạn giả Nguyễn Phương ghi lại câu chuyện của nghệ sĩ Trần Hữu Trang thì ông Phát chỉ được mời đứng đơn xin phép. Nhạc sĩ Vĩnh Bảo không tranh luận nhưng bảo lưu ý kiến là ông Nguyễn-văn-Phát là bạn chí thân của ông Arondelle Đô Trưởng thành phố Sài gòn-Chợ lớn (Préfet de la Région Saigon-Cholon) nên không chỉ đứng đơn xin lập Hội, đứng tên Hội trưởng mà khoảng năm 1948 ông đứng ra xin mảnh đất số 133 đường Cô Bắc (Mon Seigneur Dumortier) để lập Hội.

Ngoài ra Nhạc sư Vĩnh Bảo, cung cấp thêm một số thông tin như sau: “Anh Nguyển-văn-Phát của tôi đàn kìm cổ nhạc với lối chơi khép kín, nghĩa là đờn chơi với anh em trong gia đình. Không bao giờ đờn chơi với các nhạc sĩ bên ngoài. Các nhạc sĩ Hai Khuê Tư Thưởng, Tăng Kim Luông Chánh Dân không biết mặt ông Nguyển-văn-Phát, nhà ở đâu thì làm gì có chuyện mời ông làm Hội Trưởng, đứng đơn xin nhà cầm quyền Pháp cấp giấy phép thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế. Việc xin thuê đất lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế số 133 đường Cô Bắc là nhờ quen thân với ông Arondelle, Đô Trưởng Sàigòn Chợ Lớn ông Nguyển-văn-Phát tự động làm”.

Tóm lại, nhạc sư Vĩnh Bảo dựa trên thẻ Hội viên hành sự và hai bản Cấp Bằng Hào Tâm có chữ ký của ông Hội trưởng Nguyễn Văn Phát ký năm 1949 và 1950 cho rằng anh của ông là người đã sáng lập ra Hội nghệ sĩ ái hữu, còn soạn giả Nguyễn Phương là người được nghe trực tiếp từ soạn giả Trần Hữu Trang thuật lại việc ông nhận chỉ thị của Ban Tuyên truyền khu 8 để thành lập hội chứ không phải do riêng một cá nhân nào tự đứng ra kêu gọi. Cả hai vị khi đưa ra những lập luận trên đều đã cao tuổi, một người đã 102 tuổi nhưng không có liên quan gì đến nghệ thuật sân khấu và một người 98 tuổi có trên 60 năm trong nghề nên khi khảo sát vấn đề, chúng ta không thể bỏ qua việc nhầm lẫn nếu có do tuổi tác ảnh hưởng tới trí nhớ và kinh nghiệm nghề nghiệp. Theo những gì soạn giả Nguyễn Phương thuật lại thì đại khái cũng giống như những gì báo chí đã thuật lại từ trước, riêng chi tiết của nhạc sư Vĩnh Bảo đưa ra khá mới lạ và cần kiểm chứng lại.

Theo định nghĩa, “Hội ái hữu là hình thức tổ chức thấp nhất của những người cùng nghề nghiệp, lập ra thời Pháp thuộc để giúp đỡ nhau và đấu tranh bênh vực quyền lợi trong điều kiện không có quyền lập công đoàn”[ii], nhưng theo nhạc sư Vĩnh Bảo, ông Nguyễn Văn Phát “là nghệ nhân tài hoa về âm nhạc và đam mê đàn ca tài tử”[iii] nhưng “Anh Nguyễn-văn-Phát của tôi đàn kìm cổ nhạc với lối chơi khép kín, nghĩa là đờn chơi với anh em trong gia đình. Không bao giờ đờn chơi với các nhạc sĩ bên ngoài”[iv]  nhưng “Vì tình yêu âm nhạc, yêu thương nghệ sĩ cải lương và với những quan hệ xã hội thuận lợi trong guồng máy công chức chính quyền thuộc địa lẫn với giới văn nghệ sĩ, việc ông Phát đứng ra xin đất, vận động cất nhà trụ sở và thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế và trở thành Hội trưởng là điều phù hợp logic”. Một người chỉ đờn chơi theo lối khép kín với anh em trong gia đình mà vì yêu âm nhạc và yêu thương nghệ sĩ cải lương mà tự động đứng ra xin đất và thành lập hội ái hữu không liên quan gì đến nghề nghiệp của mình thì thật là khó tin! Nghi vấn thứ hai là Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế được thành lập từ năm 1948 nhưng mãi cho tới năm 2019, 71 năm sau khi hội được thành lập, sự việc ai là người sáng lập ra hội này mới được nhắc đến trong khi những người trong cuộc đã quá vãng thì việc làm này với mục đích gì?

Để tìm hiểu ngọn ngành của sự việc, chúng tôi đã tìm các hồ sơ trong Trung tâm Lưu trữ quốc gia II - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước tại số 17A Lê Duẩn, quận 1, TP.HCM và đã tìm ra đáp án: Người đứng tên làm đơn vào ngày 19.4.1948 và là hội trưởng đầu tiên của Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế là ông TRẦN KHIÊM CUNG.

Ông Trần Khiêm Cung là ai? Theo nhà báo Ngành Mai trong bài viết Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa trên RFA ngày 29.6.2014: “Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh (Ông Bầu Cung là một trong những người đứng ra xin giấy phép thành lập Hội Nghệ Sĩ Ai Hữu và là hội trưởng đầu tiên năm 1948)”[v]. Nhà báo Ngành Mai cũng như đạo diễn Nguyễn Hồng Dung đã có cuốn Điều lệ hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế in năm 1948 nên họ đã dựa theo cuốn Điều lệ hội đó mà phát biểu những gì liên quan đến hội hoặc căn nhà số 133 đường Cô Bắc.

Thư cảm ơn của ông Trần Khiêm Cung khi hội được chánh quyền chấp thuận cấp giấy phép cho thành lập.


Trong cuốn Điều lệ hội này có ghi rõ Mục Đích và Ý Nghĩa Thành Lập Hội như sau:

Hội thành lập gồm có: các kịch sĩ, văn sĩ, họa sĩ, các chủ gánh hát và tất cả những người sống liên quan mật thiết về nghệ thuật sân khấu; hợp nhau lập thành một hội lấy tên là:

“NGHỆ SĨ ÁI HỮU TƯƠNG TẾ HỘI”

a.     Hội lập ra với mục đích là: lập một ĐỀN THỜ TỔ NGHỀ HÁT để có chỗ tín ngưỡng chung. Hằng năm đến ngày giỗ (11, 12, 13 và 14 THÁNG TÁM ÂM LỊCH) và ngày ĐƯA THÁNH TỔ (24 và 25 tháng Chạp Âm lịch) những nghệ sĩ sống về sân khấu ở các nơi tựu về nơi đây cúng kiến.

b.     Để giúp đỡ các nghệ sĩ bị tai nạn, bịnh tật, mãn phần hoặc vì già nua tuổi tác không thể đeo đuổi để phụng sự cho nghề nữa phải giải nghệ.

Hội quán tạm tại đường ____________________ số ______________ ở Saigon.

Và các việc làm đầu tiên của hội là:

1.     Khi được nhà cầm quyền phê chuẩn cho phép thành lập hội rồi, thì Ban Trị Sự phải lo tổ chức các buổi hát, hoặc tìm cách mua giàn các ban hát đặng có huê lợi cho hội để: Lập tức kiếm mua hoặc mướn một miếng đất ở trong địa phương Saigon-Chợ Lớn cất ĐỀN THỜ THÁNH TỔ và HỘI QUÁN cho hội (nếu chưa tìm được đất thì tạm mướn chỗ: nhà hoặc phố làm Hội Quán và Đền Thờ).

2.     Sau khi hội đã cất Đền Thờ và nhà Hội Quán thì phải kiếm mua một miếng đất ở các vùng ngoại ô phụ cận Saigon-Chợ Lớn đặng làm nghĩa địa cho hội.

3.     Khi huê lợi của hội đặng dồi dào rồi, thì Ban Trị Sự đương niên tại chức phải lập tức cho toàn thể hội viên hay trong một buổi nhóm Đại hội để bàn định việc làm cho huê lợi của hội được sinh sôi nẩy nở như: Cất một rạp hát để:

a.     Ngày thường thì để cho các gánh hát mướn biểu diễn.

b.     Ngày cúng Thánh Tổ dùng rạp làm võ ca để hát cúng.

Hội quán tạm thời lúc đầu được đặt tại số 119 đường Boresse (nay là số 119 đường Yersin thuộc quận 1, TP.HCM và hiện giờ là Diag Laboratorries - Cơ sở lấy máu xét nghiệm) và ông Trần Khiêm Cung làm hội trưởng niên khóa 1948-1949. Xin mở ngoặc ở đây là theo soạn giả Nguyễn Phương, hội quán tạm thời lúc đầu ở đình Cầu Muối, nhưng thật ra theo giấy tờ hành chánh thì trụ sở tạm ở số 119 đường Boresse, không rõ là soạn giả Nguyễn Phương có nhớ lầm hoặc lúc đó các nghệ sĩ hội viên thường gặp nhau ở đình Cầu Muối thay vì ở trụ sở tạm thời?

Số nhà 119 đường Yersin, TP.HCM hiện nay. Vào năm 1948 tên đường là Boresse, ngôi nhà này được dùng làm trụ sở tạm của hội ‘Nghệ sĩ ái hữu tương tế’ khi hội mới thành lập. Ảnh chụp tháng 6.2022. Ảnh: Lê Thể

Thành phần hội viên được chia ra làm hai hạng là Hội viên danh dự và Hội viên hành sự. Hội viên danh dự là những người giúp ích cho hội hay có nhiều công với hội, còn Hội viên hành sự là những người có đóng tiền nguyệt liễm hằng tháng và chịu tuân theo điều lệ của hội.

Sau một năm thành lập với 400 hội viên, khi đơn xin lập hội được chính thức chấp thuận trên phương diện pháp lý, hội đã có đủ kinh phí do các hội viên cùng các nhà hảo tâm đóng góp để xây một hội quán, ông Nguyễn Văn Phát được bầu làm hội trưởng để thuận tiện cho việc đứng đơn xin do uy tín và quan hệ ngoại giao của ông ta với chính quyền đương thời.

Có thể trong thời gian vận động kinh phí để xây hội quán, ông Nguyễn Văn Phát đã xin được mảnh đất số 133 đường Cô Bắc và ông Võ Đình Ban cũng đã giúp một số tiền lớn để xây cất hội quán như nhạc sư Vĩnh Bảo đã giải thích trong bức thư ngày 29.9.2019, nhưng họ chỉ là những mạnh thường quân hoặc là Hội viên danh dự chứ không phải là người sáng lập như nhạc sư Vĩnh Bảo đã viết.

Danh sách Ban trị sự tạm thời và Ban trị sự thiệt thọ của hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế năm 1948.


Cũng trong bức thư ngày 29.9.2019, nhạc sư Vĩnh Bảo đã yêu cầu: “Những người trong cuộc đã vào cõi vĩnh hằng, nhưng cái gì của César phải trả lại cho César”, nay chúng ta có thể khẳng định, người sáng lập ra Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế không phải là ông Nguyễn Văn Phát như nhạc sư Vĩnh Bảo đưa ra vì tên của ông ta không có trong danh sách Ban Trị Sự tạm thời hoặc thiệt thọ của hội năm 1948 là năm hội được thành lập, mà gồm những tên tuổi quen thuộc của các vị Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Thanh Cao, Trần Hữu Trang, Ba Vân, Năm Châu, Phùng Há, Tư Chơi, Năm Nở… như báo chí vẫn thường nhắc tới từ năm 1948 cho tới bây giờ, nhưng không vì vậy mà chúng ta quên đi sự đóng góp của ông Nguyễn Văn Phát.

Nhà báo Thanh Hiệp đã ghi nhận ông Phát là một mạnh thường quân trong bài báo kể trên: “Theo hợp đồng mua bán còn lưu lại, người đứng tên trong sổ sách nhà đất là ông Nguyễn Văn Phát - một mạnh thường quân, nhân sĩ trí thức và cũng chính là anh ruột của Giáo sư Nguyễn Vĩnh Bảo”. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn Phát cũng không phải là vị hội trưởng đầu tiên của Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế mà vị hội trưởng đầu tiên của hội là ông Trần Khiêm Cung, tức ông Huyện Cung (hoặc Bầu Cung).

Trụ sở hội "Nghệ sĩ ái hữu tương tế" tại số 133 đường Cô Bắc, TP.HCM. Ảnh chụp tháng 6.2022. Ảnh: Lê Thể


Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế được thành lập ngày 19.4.1948 với hai mục đích chính là xây một Đền thờ Tổ nghề hát và giúp đỡ các nghệ sĩ sân khấu khi bịnh tật, nghèo khó, neo đơn. Mục đích xây đền thờ Tổ là để có nơi thờ phượng Tổ nghề hát. Truyền thống uống nước nhớ nguồn đó các nghệ sĩ sân khấu đã và đang thực hiện từ năm 1948 cho tới bây giờ và họ vẫn thường nhắc nhở tới công lao của các bậc thầy tổ tiền bối mỗi khi họp mặt ở hội quán. Những tin tức dù vô tình hay cố ý có liên quan đến Nhà thờ Tổ nhưng sai lạc của những người không phải trong nghề hát và không rõ họ làm với mục đích gì, chúng ta phải cẩn thận tra cứu độ chính xác trước khi phổ biến để thế hệ mai sau không bị lầm lẫn.

Nguyễn Tuấn Khanh 

San Jose, 26.6.2022

Nguồn:

https://nguoidothi.net.vn/giai-ma-nguoi-thanh-lap-hoi-nghe-si-ai-huu-tuong-te-35575.html

 


 

 

Wednesday, 25 September 2019

Hồn Trẻ 20 và bạn hữu

NGUYỄN TUẤN KHANH
Xin... loạn bàn về “3 bài Nam” trong 20 bài Tổ của nền cổ nhạc miền Nam:

Từ khi bộ môn Đờn Ca Tài Tử (ĐCTT) được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” vào năm 2013 thì cả miền Nam rộ lên những câu lạc bộ ĐCTT, tuy nhiên, hiện giờ chỉ còn một số ít người biết đờn và ca theo phong cách ĐCTT cho nên ngay cả hôm UNESCO trao bằng vinh danh ĐCTT, chỉ có 1 số đơn vị trình diễn bài bản theo hơi điệu ĐCTT, còn phần lớn là đờn ca theo phong cách Cải Lương. Ông thủ tướng mê cải lương Nguyễn Tấn Dũng còn yêu cầu cho... cải lương vô chương trình vinh danh ĐCTT cho... vui. Ổng ra chỉ có 1 ngày trước buổi lễ, báo hại ban tổ chức phải yêu cầu các ca sĩ cắt bớt vài đoạn trong bài ca của mình để nhường giờ cho cải lương theo đòi hỏi của ông thủ tướng. Nghệ sĩ Lệ Thủy được mời trước tiên nhưng cô đã từ chối và nói rằng đây là chương trình của ĐCTT, không liên quan đến cải lương, sau đó ban tổ chức mời “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết thì bà ta nhận lời.

Từ đó đến nay, có nhiều chương trình sinh hoạt về ĐCTT nhưng vì thiếu ca/nhạc sĩ biết về bộ môn này nên họ đành phải cho thêm cải lương cho xôm thành “Chương trình Đờn Ca Tài Tử & Cải Lương”.

Cách đây gần 2 năm tôi có thu âm 3 bài Nam theo phong cách ĐCTT với bài ca in năm 1903 mà tôi sưu tầm được. Thoạt tiên tính thu để giữ làm tài liệu riêng, nhưng khi thu xong mọi người thấy cần phổ biến nên 1 câu lạc bộ Đờn Ca Tài Tử ở VN yêu cầu cho họ làm CD để phổ biến và họ đã phân phát cho một số CLB ĐCTT các tỉnh thành ở miền Nam. Sở dĩ tôi chọn 3 bài Nam này là vì trong 4 thể điệu Bắc, Hạ, Nam, Oán của 20 bản Tổ thì 3 bài Nam này đã có 3 thể điệu là Bắc, Nam và Oán. Mời quý HT vô trong link cuối bài để nghe, còn phần dưới đây là giải thích về 3 bài Nam của cổ nhạc miền Nam.

NGUYỄN TUẤN KHANH

___________

Nói về điểm khác nhau của ba bài Nam, mỗi bài một hơi khác nhau, nhưng lại nằm trong một bộ Nam, vì thứ nhất là cùng trên một thang âm, có âm chủ đạo là xang, tuy mỗi chữ xang mỗi khác nhưng đó cũng là đặc điểm chung cho bộ này.
Nam xuân nghiêm trang, thư thái, điềm tĩnh, hơi điệu toát lên một vẻ đứng đắn đàng hoàng, như một kỳ lão nhìn cuộc đời cũng như một mùa xuân êm dịu và thư thả, không vướng bận mà có phần sâu lắng, nét nhạc ung dung chậm rãi, như một con thuyền thả nhẹ trên dòng bích lặng lờ trôi, khoan thai trong dòng chảy thời gian êm dịu, để cho người nghệ sĩ có thời gian ôn lại những trải nghiệm của cuộc đời, dành chút êm đềm lắng đọng để chiêm nghiệm lại những gì đã trải qua mà tự tỉnh, suy xét, cân nhắc lại. Bỗng như hồn Xuân lai láng, chợt gợi nên trong lòng một tình cảnh thú vị nào, sự bừng dậy của cảm xúc pha lẫn với sự hiên ngang, cái hào sảng ấy đã làm nên nét nhạc của bài Trống xuân lâng lâng dựng dựng, với nhịp trống cơm long bong như múa vui cho cuộc đời tươi đẹp.
Nam ai mang một nét buồn áo não, gợi một trạng thái hoài niệm nhớ nhung da diết về những kỷ niệm đẹp trong quá khứ, những tình thương của những người, những gì đã trải qua, Nam ai không như một lời than vãn uất ức, mà như một niềm luyến tiếc, ưu tư, sự da diết của một niềm nhớ nhung, một niềm tâm sự. Sự da diết ấy không thể nguôi ngoai ở cuối bài, sự nhớ nhung càng thêm áo não với nét nhạc Mái ai, lớp Mái ai được bập bùng bằng tiết tấu của trống cơm như thôi thúc cho người ta suy nghĩ về cuộc đời, dồn hết tất cả những tâm trạng thê thảm nhất để đúng theo nguyên lý dịch học “bỉ cực thới lai”, sự thới thạnh ấy đến trong cái cơn bỉ cực, đó là sự mở đầu cho nét nhạc Đảo ngũ cung.
Đảo ngũ cung thì nghiêm trang pha lẫn trầm hùng, sự kiêu hãnh, sự hiên ngang bất khuất, như một dũng tướng đã về già, nhớ lại những lúc xông pha ngoài chiến trận, những lúc phải lăn lộn với mũi đạn lằn tên, vì đã trải qua một sự vào sanh ra tử, nên cái sự hiên ngang ấy vô hình trung đã sinh ra và ngự trị trong tâm khảm của người, toát nên một vẻ vừa hiên ngang vừa ngạo nghễ, đôi lúc dạt dào như những kỷ niệm hào hùng dội về sôi động trong lòng, để rồi cuối cùng cũng chợt tỉnh, cùng với những khí phách hào hùng ấy là những vấp ngã của cuộc đời từng trải, những thất bại, những lúc gian nan nguy hiểm như có tử thần chầu chực để rước linh hồn đi, làm cho họ sâu lắng, ê chề hơn khi chuyển sang lớp Song cước mà nhịp trống cơm vỗ bong bong khiến cho tâm hồn chợt thức tỉnh.
(Nguyễn Phúc An, Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ - Khảo & Luận, NXB Tổng Hợp, 2019, Tr.207-209).

Thursday, 10 July 2014

Những bài viết khác



Nguyễn Tuấn Khanh

Ý NGHĨA CỦA 
HAI CHỮ “CẢI LƯƠNG” [1]

Hòa ước Giáp Tuất được ký ngày 18-3-1874, toàn cõi miền Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Bốn năm sau đó, ngày 6-4-1878, thống đốc Nam Kỳ là phó đề đốc Hải quân Pháp Louis Lafont ban hành nghị định, kể từ ngày 1-1-1882 bắt buộc tất cả những giấy tờ hành chánh như công văn, nghị định, sắc lệnh, án tòa v.v… không được viết bằng chữ Hán nữa, mà phải viết bằng mẫu tự La Tinh, tức là chữ Pháp hoặc chữ Quốc ngữ. Ngoài ra, những người muốn vào làm việc cho các cơ quan nhà nước ở các cấp phủ, huyện, tổng phải biết chữ Quốc ngữ. Thời gian ban hành nghị định và thời gian thi hành cách nhau 4 năm để có đủ thời gian tổ chức giáo dục. Chương trình cho bậc tiểu học Pháp-Việt là 6 năm, 3 năm đầu học sinh được học 3 thứ chữ là chữ Nho, Pháp và Quốc ngữ, nhưng 3 năm sau chỉ còn học chữ Pháp và Quốc ngữ mà thôi. Kể từ đây, người Việt được học theo hệ thống giáo dục của Pháp và bắt đầu làm quen với phong tục và văn hóa Tây phương. Kết quả của sự cưỡng bách giáo dục này là đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tại Việt Nam đã có nhiều người theo tân học. Nhờ tiếp xúc với nền văn minh Tây phương, những người theo tân học này, trong đó bao gồm cả những nhà cách mạng, nhà báo và và các nhà trí thức nhận thấy xã hội Việt Nam còn thua kém nhiều nước trên thế giới nên đã có nhiều phong trào kêu gọi dân Việt nên canh tân, đổi mới ngõ hầu theo kịp nền văn minh tiên tiến và danh từ “Cải Lương” đã bắt đầu được nhiều người biết đến.

Nếu giải thích theo định nghĩa thông thường của tự điển bằng cách cắt nghĩa riêng từng chữ Hán Việt “cải” có nghĩa là “sửa đổi” và “lương” có nghĩa là “tốt lành” rồi ghép lại thì hai chữ “Cải Lương” có nghĩa là “sửa đổi cho trở nên tốt hơn”. Định nghĩa đó quả đúng như hoài bão của Lương Khắc Ninh khi ông muốn “Cải Lương” lại bộ môn Hát Bội vào những năm 1916, 1917 vì lối diễn xuất cùng hát xướng của các đào kép hát bội ngày càng sút kém, nên ông kêu gọi chấn chỉnh lại lối hát cùng diễn xuất cho hay như xưa. Tuy nhiên, vào những thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hai chữ “Cải Lương” tại Việt Nam có một định nghĩa khác, được dùng trong nhiều trường hợp để chỉ sự “Thay Cũ Đổi Mới”, kêu gọi “Duy Tân” theo nền văn minh Tây phương, thí dụ như “Cải Lương Hương Chính”: tổ chức hành chánh làng xã theo lối mới; có hợp tác xã, “Sử Ký Cải Lương”: viết sử theo phương pháp Tây phương theo diễn biến sự việc, thay vì viết theo niên biểu; “Đám Tang Cải Lương”: tang lễ làm theo nghi thức Tây phương; “Thiên Chúa Cải Lương”: đạo Protestantisme (đạo Tin Lành, người Trung Quốc gọi là Tân Giáo); “Quốc Âm Cải Lương”: dùng chữ quốc ngữ để phiên âm tiếng ngoại quốc thay vì dùng Hán Việt (thí dụ: cà phê, ba ton, bánh bích quy…), “Cúp Tóc Cải Lương”: hớt tóc ngắn thay vì để búi tóc ; “Chèo Cải Lương” tức “Chèo Văn Minh”: hát chèo trên sân khấu ở rạp có bài trí phông màn như sân khấu thoại kịch Tây phương thay vì hát ở sân đình, phục trang cải tiến v.v…

Các sách báo thời đó khi dịch hai chữ “Cải Lương” ra tiếng Pháp thì họ dùng từ “Modernes” có nghĩa là “hiện đại hóa”. Tác giả Trung Trực đã viết trong báo Lục Tỉnh Tân Văn ngày 9-2-1923 bài “Tình Trạng Cải Lương Của Người Mình” như sau:

“Đang buổi phong trào thay cũ làm mới, cái tiếng cải lương xuất hiện ở xứ mình, nghe ra ngày một cổ võ vô cùng, trong dân bất cứ là làm những việc gì, đều mượn cái tiếng cải lương bịa vào để nghe cho đẹp! Nào là nghề diễn kịch cũng cải lương, cuộc tuyển cử Nghị viên quản hạt cũng cải lương, việc hôn, quan, tang, tế cũng cải lương, vân vân; nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, thì trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đã thập phần hoàn mỹ, không còn điều chi phải ái ngại nữa. Mà thật thế, phàm việc gì đã gọi rằng cải lương, thì cả thảy ai ai cũng phải nhìn cho là việc hoàn mỹ vậy. Nhưng mà, nếu có ai là người ưu thời mẫn tục, lưu tâm chính xét đến hiện tình cải lương tấn bộ của người nước mình, thì người ấy ắt phải châu mày về nỗi lễ nghi trật tự nước nhà ngày kia phải điên đảo cũng bởi cái tiếng cải lương đó đi mà chớ. Là bởi tiếng cải lương của người mình đang dùng đó, phần nhiều chưa thấy có cái hiệu quả gì vào đường khai trí tấn đức của quốc dân, mà xét kỹ ra, thì cũng phần nhiều hình như đem việc tệ nay mà thay vào việc tệ xưa, hoặc đem một việc mới không cần dùng mà đổi phứt đi với một việc cũ đã giúp ích cho nước nhà xã hội ta từ xưa một nền luân lý rất đẹp đẽ vô cùng.

Nghĩ ra, thì cái tiếng cải lương của dân ta đang hâm mộ, đang trọng dụng bây giờ đó, ví khác nào một gã dung y kia ham dùng những vị thuốc độc ấy đâu. Mà quả làm vậy, cái hại của những người chưa có trí dục và đức dục mà lạm dùng hai chữ cải lương, thì có khác nào cái hại của bọn dung y chưa thông tánh dược mà lại ham dùng những vị thuốc độc.”

Đến giữa thập niên 1910, tại miền Nam có nhiều tỉnh đã lập ra những hội Khuyến Học với mục đích là khuyến khích và giúp đỡ dân Việt trong việc theo tân học, cải tiến canh nông, thương mại, kỹ nghệ v.v… Năm 1916, hội Khuyến Học Long Xuyên do đốc phủ Lê Quang Liêm, còn gọi là Đốc phủ Bảy làm hội trưởng lập ra “Cải Lương Kịch Xã”, thành viên là những nhà trí thức, thông ngôn, ký lục để trình diễn những vở kịch nói bằng tiếng Pháp và tiếng Việt cho công chúng xem.

Trong buổi tiệc mừng ngày 16-9-1917 tại nhà hàng Soái Kình Lâm ở Chợ Lớn để đón tiếp hội Khuyến Học Long Xuyên lên Sàigòn, Nguyễn Chánh Sắt đã tóm tắt sứ mạng của các hội Khuyến Học như sau: “Tôi nghĩ vì Khuyến Học Hội là chỗ giáo dục nhân tài, chư Báo Quán là nơi quảng khai dân trí, còn Cải Lương Kịch Tràng là chỗ điểm hóa nhân tâm. Nếu ba nhà ấy mà liên hiệp với nhau, lo tìm điều công ích mà phổ hóa cho đồng bào, dường ấy thì cái tiền đồ của quốc dân ta mới thấy mon men tới bến văn minh mà vẻ vang trong hoàn võ” .


Đốc phủ Lê Quang Liêm (người đứng giữa mặc áo gấm) và các viên chức trong hội Khuyến Học Long Xuyên

Nhóm “Cải Lương Kịch Xã” này trình diễn lần đầu tại Long Xuyên nhân ngày quốc khánh Pháp 14-7-1916. Năm sau, cũng vào ngày quốc khánh Pháp 14-7-1917, “Cải Lương Kịch Xã” trình diễn vở kịch “Vì Nghĩa Quên Nhà” bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp do Đốc phủ Bảy và Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh) sáng tác để lấy tiền giúp cho cô nhi quả phụ trong trận thế chiến lần thứ nhất. Buổi trình diễn này rất thành công, được cả người Pháp lẫn người Việt ca ngợi nên hội Khuyến Học Long Xuyên tiếp tục lên Sàigòn trình diễn tại rạp hát bóng Eden vào hai ngày 11 và 12 tháng 9 năm 1917.

Hai chữ “Cải Lương” dùng để chỉ bộ môn kịch nghệ sân khấu lần đầu được báo chí nhắc đến trong dịp này. Lần thứ nhất Nguyễn Chánh Sắt viết trong bài giới thiệu “Cải Lương Kịch Xã” trong “Nông Cổ Mín Đàm”:

 “Bổn quán xin nhắc lại cho liệt vị rõ rằng bạn hát Cải Lương nầy toàn là mấy thầy trong hội Khuyến Văn tỉnh Long Xuyên làm tuồng, đều là người có học thức, chớ chẳng phải như hát bội Annam mà chúng ta xem thường tự thuở đến nay đâu”. (Nông Cổ Mín Đàm ngày 6-9-1917)

Lần thứ nhì là trong bản tin tường thuật cuộc hát tại Gò Vấp:

“Cuộc hát làm phước tại Gò Vấp:

Đêm 20 Septembre 1917 rồi đây cuộc hát làm phước của mấy ông Hội đồng quản hạt bày ra tại rạp hát Cải Lương Gò Vấp, thâu được ba trăm mấy chục đồng, và đã dâng liền cho hội Ái Quốc Sàigòn và để tế cấp cho những trẻ mồ côi vì cuộc binh tai bên Âu Châu”. (Nông Cổ Mín Đàm ngày 18-10-1917)

Lần thứ ba đề cập trong lời giới thiệu bài ca Tứ Đại khuyên đồng bào giúp cô nhi quả phụ:

“Bổn quán xin nhắc lại rằng trong đêm 12 Septembre 1917, là đêm Hội Khuyến Học Long Xuyên diễn tuồng Cải Lương tại rạp hát Cô Tám ở Chợ Lớn, trong khi đổi lớp tuồng thì có đờn tài tử và ca”. (Nông Cổ Mín Đàm ngày 6-12-1917)

Như vậy, hai chữ “Cải Lương” được dùng cho bộ môn sân khấu bắt nguồn từ bộ môn Kịch Nói do hội Khuyến Học Long Xuyên khai sinh với nhóm “Cải Lương Kịch Xã” là để “diệt tục phong di theo lối văn minh thời đại”. Bộ môn kịch nói được gọi là “Cải Lương” này là trình diễn theo lối “văn minh” của kịch nghệ Tây phương đã được Nguyễn Chánh Sắt giải thích rõ ràng như sau:

“Vả chăng trong cuộc hát xướng mà cải lương theo lối văn minh thời đại này, thì vẫn có ba điệu: Một là Opéra (Ô-bê-ra); Hai là Opérette (Ô-bê-rết); Ba là Comédie (Cô-mê-di)[2]. Opéra là tuồng hát ròng Nam Khách ngâm nga, có múa nhảy và có đờn ca nhạc trổi từ đầu tuồng cho đến vãn; Opérette là tuồng hát có Nam Khách ngâm nga mà cũng có khi diễu cợt; còn tuồng Comédie cũng như tuồng đồ để mà bao biếm phong tục, và cũng có làm trò diễu chơi cho vui dạ kẻ khán tràng.

Nay Hội Khuyến Học Long Xuyên mà hát đó là hát tuồng Comédie (Cô-mê-đi) rồi lần lần đây sẽ đặt tuồng thêm mà hát cho đủ ba điệu cho được trọn tốt trọn lành, chớ nay mới khởi ra thì làm sao cho toàn hảo được”. (Nguyễn Chánh Sắt, “Cuộc Hát Cải Lương”, Nông Cổ Mín Đàm, 27-9-1917).

Vở “Vì Nghĩa Quên Nhà” tuy không phải là vở kịch đầu tiên viết bằng tiếng Việt, nhưng nhờ có sự trình diễn của các vị trí thức trong nhóm “Cải Lương Kịch Xã” của hội Khuyến Học Long Xuyên cùng với sự phổ biến rộng rãi của báo chí thời đó nên được nhiều người biết đến. Lối diễn xuất tự nhiên cùng với lời đối thoại trong sáng, dễ hiểu, khác xa với bộ môn hát bội nên đã được đón nhận nhiệt liệt, mở đầu cho một luồng gió mới trong bộ môn kịch nghệ Việt Nam.

Trước đây cũng đã có nhiều nơi diễn những vở kịch của Pháp, hoặc bằng tiếng Pháp, hoặc được dịch ra tiếng Việt, nhưng thường là trong phạm vi của những trường học hoặc nhà thờ, chưa được phổ biến rộng rãi trong công chúng vì nội dung những vở kịch đó thường mang tính cách học đường hoặc tôn giáo. Thỉnh thoảng trên báo chí cũng có đăng những vở kịch bằng tiếng Pháp được dịch sang tiếng Việt, nhưng văn phong của những vở kịch dịch đó vẫn còn chịu ảnh hưởng của lối viết tuồng hát bội. Thí dụ như trong Nông Cổ Mín Đàm có đăng những vở kịch dịch từ tiếng Pháp của Nguyễn Ngọc Ẩn như “Con Khỉ Hát Bóng” ngày 14-11-1914, “Gà Và Vịt” ngày 9-2-1915 và “Nhuệ Minh Kê” ngày 10-2-1916. Vở “Nhuệ Minh Kê” được dịch ra từ vở kịch Chantecler (1910) của thi sĩ kiêm kịch tác gia người Pháp là Edmond Rostand, diễn tả cuộc đối đáp của con gà trống cắt nghĩa cho con chim trĩ nghe về việc gà trống gáy sáng đánh thức mặt trời dậy. Vở kịch này rất nổi tiếng và hiện nay được coi như là một trong những vở kịch kinh điển của bộ môn kịch nghệ đầu thế kỷ 20. Sau đây là một phần trích đoạn của vở “Nhuệ Minh Kê” do Nguyễn Ngọc Ẩn dịch, ta thấy vẫn còn văn phong cùng những câu “hường”, “vĩ” của hát bội:

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thư Trĩ kinh hoàng nhi viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Và cái tiếng gáy của ta
Đã chắc rồi chỗ thắng không sai,
Liền trổi tới giọng hùng thêm rõ,
Càng nghe càng ó
Càng lóng càng oai
Chơn trời mù sảng sốt thừa sai,
Vừng mây ửng nhộn nhàng phụng lịnh!

Thư Trĩ viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Ta gáy lên, chừng đó thì
Đêm hắc ám cầu hòa dua nịnh
Mượn huỳnh hôn hối lộ tà tây;
Dẫu thế nào, ta cũng không nghe;
Vì nghĩa nọ, ta thì cứ gáy!
Rồi phút chốc...

Thư Trĩ viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Ta thối lui, lạ bấy!
Thoạt mình đà rực rỡ, xinh thay!
Ta đây. Chẳng qua là đứng giữa quần kê
Mà lại đã làm lên mặt nhựt!

Thư Trĩ viết:
Té ra, đó là trọn cả cái điều bí nhiệm nó làm cho mi gáy sao?

Nhuệ Minh Kê viết:
Ấy cũng bởi vì ta dám chắc
Rằng nếu mà không mỗ đảm đương
Thì hẳn hòi ở phía Đông phương
Sẽ mê mẩn yên vòng hắc tịch!
Ta nào ráng “ó o” thích lịch
Đặng mà xin eo éo lôi đồng!
Ta chỉn vì quang diệu gia công,
Dễ nào tưởng vinh hoa cần tác.
Gáy là hẳn phép ta công phạt
Gáy là rành lẽ mỗ tư lương;
Và nếu mà trong. Tiếng tầm thường, giọng mỗ phi thường,
Ấy là chỉn vì ta. Gáy minh bạch, cho trời thanh bạch!

Những vở kịch do nhóm “Cải Lương Kịch Xã” diễn đã không còn ảnh hưởng theo lối viết văn của hát bội nữa vì những vị trong hội Khuyến Học Long Xuyên là những người theo tân học và họ đã từng diễn những vở kịch của Pháp bằng tiếng Tây trước đó rồi. Sau đây là lớp thứ nhất của vở tuồng “Vì Nghĩa Quên Nhà”[3] do Lê Quang Liêm và Hồ Biểu Chánh sáng tác:

Lớp nhứt

Giở màn ra thì thấy Lê Hiền Sĩ đương ngồi dạy con trai lớn và con gái học dựa bàn. Cô Thông ngồi may trên bộ ván, còn đứa con trai nhỏ nằm ngủ một bên.

Lê Hiền Sĩ: Con dạy hoài cũng vậy. Làm toán mà viết không ngay hàng cộng làm sao được?

Ngọc Anh: Tại cha không gạch mà ai viết cho ngay được?

Hiền Sĩ: Đâu, đưa tao viết lại cho mà cộng.

(Hiền Sĩ lấy giấy viết rồi đưa lại cho con gái)

Hiền Sĩ: Đây, cộng đi.

Ngọc Anh: Bảy với chín là... là...

Hiền Sĩ: Mấy?

Ngọc Anh: Mười lăm.

Hiền Sĩ: Cộng sao mà mười lăm? Con nầy muốn tao bộp tai bể đầu?

(Ngọc Anh mếu và tay dụi con mắt)

Hiền Sĩ: Bây giờ mầy ngồi đó khóc hay sao?

Trần Thị Oanh: Cha nó nạt om sòm, con nó hết hồn, nó học sao được?

Hiền Sĩ: Đồ ngu quá, không rầy sao được?

Thị Oanh:  Thủng thẳng mà dạy nó chớ!

Hiền Sĩ: Mẹ nó tài nói giỏi hoài. Đâu mẹ nó dạy thử nó, rồi coi có nóng hay không?

Thị Oanh:  Đã biết mình dạy con mình thì sao mình cũng muốn nó mau giỏi. Hễ nó không hiểu thì sao mình cũng giận. Vậy mình mà biết dằn lòng, hòa huỡn mà dạy nó được mới hay chớ!

Hiền Sĩ: Hứ! Thánh Hiền xưa còn phải nóng, lựa là tôi. Hèn chi cổ nhơn diệt tử nhi giáo cũng phải.

(Chú Bếp hầu ngoài cửa bước vô xá thầy thông và thiếm thông)

Hiền Sĩ: Có chuyện chi hay chú Bếp?

Bếp hầu: Dạ, bẩm thầy quan lớn chánh cho mời thầy.

Hiền Sĩ: Ủa! Chúa nhựt mà có chuyện chi hay chú?

Bếp hầu: Dạ, bẩm tôi không biết. Quan lớn mới được cái giây thép rồi hối tôi đi mời thầy đây.

Hiền Sĩ: Quan lớn ở nhà tư hay là nhà hầu?

Bếp hầu: Bẩm trên nhà tư.

Hiền Sĩ: Ừ! Thôi chú về đi, để tôi thay đồ rồi tôi lên sau.

Bếp hầu: Bẩm thầy tôi về, bẩm cô tôi về.

(Bếp hầu đương bước ra, Hiền Sĩ đương đứng dậy bước vô buồng thì màn kéo lại)


Với những lời đối thoại như vậy và cách diễn xuất mới lạ, những vở kịch do nhóm “Cải Lương Kịch Xã” trình diễn đã mau chóng được mọi người chấp nhận. Tuy nhiên, ta cũng phải thừa nhận rằng cũng nhờ có trận thế chiến lần thứ nhất nên mới có nhu cầu lạc quyên giúp đỡ cô nhi quả phụ trong trận chiến, những hội đoàn như hội Khuyến Học, hội Nhà Báo mới có cơ hội trình diễn những vở kịch mới để quảng bá trong quần chúng. Sau này, khi nhắc đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường nhớ tới ông với tư cách là một nhà văn, nhà báo mà quên một điều là ông cũng là một trong những kịch tác gia tiên phong trong việc Việt hóa bộ môn kịch nghệ của Pháp. Hồ Biểu Chánh cũng đã đóng góp nhiều trong công cuộc “cải lương” nghệ thuật sân khấu miền Nam khi tham gia cuộc quốc trái lần thứ tư vào năm 1918. Trong cuộc quốc trái đó, không những Hồ Biểu Chánh đã đóng một vai trong tuồng “Pháp Việt Nhứt Gia” với lối trình diễn mới, ông còn cho trình diễn vở kịch nói “Phú Nhi Háo Nghĩa” do ông sáng tác để giới thiệu một loại nghệ thuật sân khấu mới lạ cho người dân vùng Nam Kỳ lục tỉnh. Bên cạnh Hồ Biểu Chánh, công của đốc phủ Lê Quang Liêm cũng không nhỏ khi ông cho lập nên “Cải Lương Kịch Xã” để diễn những vở kịch mới, mở đường cho sự ra đời của nghệ thuật sân khấu “Cải Lương” sau này.

Nguyễn Tuấn Khanh

----------------
[1] Nguyễn Tuấn Khanh, Bước Đường Của Cải Lương, California-USA, Viện Việt-Học, 2014, trang 83.

[2] Opéra = Nhạc kịch, Opérette = Ca kịch, Comédie = Hí kịch

[3] Lê Quang Liêm - Hồ Biểu Chánh, Vì Nghĩa Quên Nhà, Saigon, Imprimerie Moderne S. Montégout, 1917.